mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không chỉ là chiến công của dân tộc Việt Nam mà còn là là chiến công chung của các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh vì độc lập tự do, vì thế nó có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo của Đảng và tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh. Nó chứng tỏ rằng: một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa trước khi giai cấp công nhân ở “chính quốc” lên nắm chính quyền.
Cách mạng Tháng Tám đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc. Kinh nghiệm Cách mạng Tháng Tám thành công để lại cho Đảng và nhân dân Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý báu. Thứ nhất, về chỉ đạo chiến lược, phải giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất. Trong cách mạng thuộc địa, phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, còn nhiệm vụ cách mạng ruộng đất cần rải ra thực hiện từng bước thích hợp nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc.
Thứ hai, về xây dựng lực lượng: Trên cơ sở khối liên minh công nông, cần khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp mọi lực lượng yêu nước trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Việt Minh là một điển hình thành công của Đảng về huy động lực lượng toàn dân tộc lên trận địa cách mạng, đưa cả dân tộc vùng dậy trong cao trào kháng Nhật cứu nước, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Thứ ba, về phương pháp cách mạng: Nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng của quần chúng, ra sức xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ và khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận ở những vùng nông thôn có điều kiện, 14 0 0 tiến lên chớp đúng thời cơ, phát động tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị, giành chính quyền toàn quốc. Thứ tư, về xây dựng Đảng: Phải xây dựng một Đảng cách mạng tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam, tuyệt đối trung thành với lợi ích giai cấp và dân tộc; xây dựng một đảng vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức, liên hệ chặt chẽ với quần chúng và với đội ngũ cán bộ đảng viên kiên cường được tôi luyện trong đấu tranh cách mạng.
Đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của đảng bộ các địa phương. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đưa lịch sử dân tộc sang trang mới, đánh dấu bước nhảy vọt vĩ đại trong quá trình tiến hoá của dân tộc. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khi ra đời, dù phải trải qua muôn vàn khó khăn thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần đoàn kết phấn đấu của toàn dân, luôn được xây dựng và củng cố, vững bước tiến trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Suốt 15 năm đấu tranh cách mạng 1930- 1945, Đảng đã lãnh đạo giai cấp và dân tộc hoàn thành mục tiêu giành độc lập, thiết lập nhà nước dân chủ nhân dân.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của bài: quá trình diễn ra Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của nó trong sự phát triển của lịch sử Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Cao trào cách mạng diễn ra liên tục và Cách mạng Tháng Tám diễn ra trên phạm vi toàn nước. - Về thời gian: diễn biến cao trào của phong trào cách mạng từ năm 1930 đến cuộc Tổng khởi nghĩa năm 1945 thắng lợi hoàn toàn. Phương pháp nghiên cứu Để nghiên cứu đề tài nhóm đã kết hợp sử dụng một số phương pháp chính như sau.
Phương pháp logic giúp nhận thức đúng đắn về thế giới quan, hiện thực diễn biến, quá trình và kết quả của Cách mạng tháng 8. Đồng thời, giúp ta tìm cái logic, cái 15 0 0 tất yếu bên trong “bức tranh quá khứ” để vạch ra bản chất, quy luật vận động, phát triển khách quan của hiện thực. Phương pháp lịch sử dùng để làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của cách mạng tháng 8 với các tình hình trong nước và thế giới lúc bấy giờ. Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp dùng để nghiên cứu sâu sắc cuộc cách mạng này để nhận biết các mối quan hệ bên trong, bên ngoài và giúp người đọc có cái nhìn khách quan về nguyên nhân dẫn đến sự thắng lợi trong cả nước.
Ngồi ra, còn sử dụng một số phương pháp như so sánh đối chiếu, quy nạp, … Với phương pháp này, nhóm em sẽ thực hiện việc so sánh đối chiếu giữa kết quả tổng hợp tài liệu, để phân tích tìm ra được sự tương đồng và khác biệt về “Cuộc Cách mạng tháng Tám” so với các cao trào cách mạng diễn ra trong thời gian đó cũng như nghệ thuật quân sự của Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử. Đóng góp của đề tài Cách mạng Tháng Tám thành công, sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không chỉ là mốc son chói lọi; bước ngoặt trọng đại của nhân dân, dân tộc Việt Nam; Mở ra một kỷ nguyên đất nước độc lập, tự do, đi lên chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sống trong chiến tranh mới thấy hết giá trị của hòa bình; chịu cảnh nô dịch của ngoại bang mới thấm thía nổi nhục của kiếp nô lệ. Hơn ai hết, nhân dân, dân tộc Việt Nam đã chịu biết bao đau thương, mất mát, tủi nhục, bởi đã từng là nạn nhân của hàng trăm, hàng ngàn cuộc chiến tranh lớn nhỏ trong lịch sử; cũng đã từng chịu sự nô dịch của 1.000 năm phong kiến phương Bắc và gần 100 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc Pháp; là chiến trường ròng rã hơn 20 năm bởi âm mưu, thủ đoạn, toan tính và dã tâm xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Pháp, thực dân Mỹ và bè lũ tay sai.
Càng thấm thía nỗi đau của chiến tranh, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn giá trị vĩnh cửu của Cách mạng tháng Tám và nền độc lập, tự do mà cuộc cách mạng vĩ đại ấy mang lại; trân trọng hơn cuộc sống hòa bình, tự do, độc lập, dân chủ, công bằng, văn minh mà cả dân tộc ta phải đánh đổi bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt của bao thế hệ cha anh đi 16 0 0 trước. Chúng ta càng thấu hiểu sự hy sinh, công lao to lớn của Đảng, Bác Hồ và các thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân đã dày công xây dựng, vun đắp và bảo vệ đất nước. Bố cục tiểu luận Chương 1: Quá trình chuẩn bị cho cách mạng tháng 8 năm 1945 Chương 2: Cuộc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8 năm 1945 17 0 0 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ CHO CÁCH MẠNG THÁNG 8 - 1945 1. Các chủ trương, đường lối Cách mạng và tiến trình phát triển lý luận của Đảng.
Cương lĩnh chính trị tháng 2 – 1930 Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (Cương lĩnh tháng 2) đã vạch rõ các vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam: Phương hướng chiến lược: “Tư sản dân quyền Cách mạng và thổ địa Cách mạng để đi tới xã hội Cộng sản”. Chiến lược lâu dài là đánh đế quốc, giành độc lập; đánh địa chủ phong kiến, thực hiện Cách mạng ruộng đất tiến lên CNXH. Cương lĩnh cũng chỉ rõ nhiệm vụ giai đoạn đầu là độc lập và ruộng đất trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ đánh để quốc, giành độc lập. Lực lượng Cách mạng: toàn thể nhân dân Việt Nam có lòng yêu nước.
Phương pháp Cách mạng: bạo lực Cách mạng có tổ chức, có ý thức, tự giác. Lực lượng lãnh đạo: Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan hệ của Cách mạng Việt Nam với phong trào Cách mạng thế giới: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của Cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.2 Chủ trương đấu tranh trong những năm 1936 – 1939 Tình hình quốc tế có nhiều biến động: sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít cùng nguy cơ chiến tranh thế giới, Đại hội VII Quốc tế Cộng sản đưa ra đường lối cho giai đoạn Cách mạng mới, tình hình chính trị tại Pháp có nhiều thuận lợi cho các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam. Trước tình hình đó, qua các kỳ Hội nghị T.W (2, 3, 4, 5), Đảng đã có sự chuyển hướng trong chỉ đạo chiến lược lần thứ nhất: Về kẻ thù: bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai.
18 0 0 Về nhiệm vụ trước mắt: đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Hình thức tổ chức và phương thức đấu tranh: công khai, nửa công khai; hợp pháp, nửa hợp pháp. Đoàn kết quốc tế: đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Pháp cùng nhân dân 3 nước Đông Dương. Chủ trương đấu tranh từ năm 1939 đến năm 1945 Tình hình quốc tế: Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ (Thực dân Pháp ở Đông Dương đi vào con đường phát xít tàn bạo, thẳng tay đàn áp phong trào Cách mạng của nhân dân ta); Nhật vào Đông Dương câu kết với Pháp bóc lột nhân dân ta hết sức dã man, tàn bạo.
Trước tình hình này, Đăng quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trên các luận điểm quan trọng sau: Về nhiệm vụ tạm gác lại khẩu hiệu Cách mạng ruộng đất, nêu cao vấn đề giải phóng dân tộc, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu của Cách mạng Việt nam lúc này.