mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, phát huy truyền thống đấu tranh bất khuất, quật cường, để bảo vệ nền độc lập, nhân dân nhiều vùng miền cả nước đã sôi nổi đứng dậy dưới ngọn cờ của các văn thân, sĩ phu yêu nước chống quân xâm lược ngay từ những ngày đầu chúng xâm phạm bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc. Vấp phải sự chống trả quyết liệt, thực dân Pháp không thể thực hiện được chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh và sau hơn một phần tư thế kỷ, thực dân Pháp mới chiếm được Việt Nam. Phong trào đấu tranh vũ trang cuối thế kỷ XIX của nhân dân ta đã bị đàn áp và tổn thất nặng nề.
Sự thất bại của các phong trào đó bộc lộ sự yếu kếm của lực lượng lãnh đạo. Do hạn chế bởi điều kiện giai cấp và thời đại, nên trong khi dựng cờ cứu nước, những sĩ phu yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX vẫn giương cao ngọn cờ phong kiến, theo đuổi tư tưởng phong kiến đã lỗi thời và lạc hậu. Sau một thời kỳ đấu tranh, phong trào kháng Pháp theo ý thức hệ phong kiến đã dần trở nên rời rạc, lẻ tẻ và cuối cùng tan rã. Nó không có điều kiện phát triển thành một cao trào cách mạng rộng lớn để có thể đánh đổ được bọn đế quốc thực dân giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Đánh chiếm xong Đông Dương, ngay trong bước đầu thiết lập nền thống trị, thực dân Pháp thiết lập Liên bang Đông Dương bằng sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 17-10-1887. Liên bang Đông Dương gồm ba kỳ của Việt Nam, Campuchia, sau đó thêm Lào (1899) và Quảng Châu Loan (1890). Từ đó, nước Việt Nam bị xóa tên trên bản đồ thế giới, nước Việt Nam thống nhất bị chia làm ba xứ, với những chế độ cai trị khác nhau: Nam Kỳ là đất thuộc địa, Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, Trung Kỳ là xứ lưỡng trị. 14 z Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định bằng vũ lực, thiết lập bộ máy thống trị trên toàn bộ đất nước, thực dân Pháp đã tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá của chính quốc.
Các cuộc khai thác thuộc địa đó có tác động rất lớn đối với Việt Nam, làm cho nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu, trì trệ, ngày càng trở nên què quặt, lệ thuộc vào kinh tế chính quốc. Việt Nam từ một xã hội phong kiến đơn thuần với hai giai cấp cơ bản, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, xã hội nước ta trở thành một xã hội thuộc địa, với sự xuất hiện của các tầng lớp và giai cấp mới. Các mâu thuẫn trong xã hội ngày càng diễn ra gay gắt, trong đó, nổi bật lên là mâu thuẫn dân tộc - mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với bọn đế quốc thực dân xâm lược. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chống lại sự xâm lược, ách áp bức của thực dân Pháp có các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân và đồng bào miền núi.
Phong trào kháng chiến của nhân dân ta nổ ra từ đồng bằng, rồi lan dần lên trung du, miền núi. Trong hàng loạt cuộc nổi dậy đó, phong trào nông dân Yên Thế là phong trào đấu tranh vũ trang lớn và kéo dài nhất, từ cuối thế kỷ XIX sang hơn mười năm đầu thế kỷ XX. Thủ lĩnh của phong trào chủ trương “thủ hiểm”, lấy Yên Thế làm căn cứ địa, chờ thời cuộc thuận lợi để đánh đuổi thực dân Pháp bằng quân sự. Đến đầu thế kỷ XX, phong trào nông dân Yên Thế bị thực dân Pháp đàn áp và thất bại.
Vào đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, sự thức tỉnh của Châu Á cùng với phong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng 1905 ở Nga đã tạo thành một cao trào thức tỉnh phương Đông. Những phong trào dân tộc và cải cách dân chủ theo khuynh hướng tư sản trở thành trào lưu phổ biến và nổi bật ở nhiều nước châu Á. Hàng trăm triệu người đã hướng về một cuộc sống mới với ánh sáng tự do. Những biến đổi bên trong của Việt Nam về hai 15 z mặt kinh tế và xã hội do tác động của các cuộc khai thác thuộc địa đã tạo cơ sở vật chất cho sự tiếp thu những luồng tư tưởng mới của các cuộc cách mạng từ bên ngoài, đặc biệt là của cách mạng tư sản Pháp (1789), của phong trào Duy Tân ở Nhật Bản (1868), của cuộc vận động Duy Tân (1898) và cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc.
Tiếp thu những tư tưởng mới, xuất hiện một tầng lớp chí sĩ yêu nước và và các phong trào đấu tranh cách mạng, tiêu biểu là phong trào Đông Du (1905-1908), Đông Kinh nghĩa thục (1907), cuộc vận động Duy tân và chống thuế ở Trung Kỳ (1908), Việt Nam Quang phục hội (1912), phong trào yêu nước của các tầng lớp tiểu tư sản thành thị,. Mặc dù phong trào dân tộc theo khuynh hướng cách mạng tư sản diễn ra sôi nổi, nhưng cuối cùng đều bị thực dân Pháp đàn áp và bị thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện lịch sử hạn chế, lãnh đạo các phong trào đều chưa nhận rõ được kẻ thù, chưa nhận rõ được nhiệm vụ cơ bản và lực lượng cơ bản. Đặc biệt, do hạn chế của tư tưởng dân chủ tư sản, các lực lượng cách mạng được tập hợp trong các phong trào này còn chưa đầy đủ, chưa phù hợp với đặc điểm phân hóa xã hội của xã hội thuộc địa Việt Nam.
Các phong trào này chủ yếu tập hợp học trò, nhà buôn, sĩ phu, thầy thông, thầy ký… Hai lực lượng cơ bản, quan trọng nhất lúc bấy giờ là công nhân và nông dân còn chưa được lãnh đạo các phong trào chú ý tới. Thực tế đó cho thấy giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé về kinh tế, non nớt về chính trị,. không thể làm hậu thuẫn vững chắc cho một phong trào đấu tranh cách mạng mạnh mẽ, để hoàn thành sứ mạng lịch sử giành độc lập, tự do cho dân tộc. Như vậy, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam tuy phát triển mạnh mẽ, song đều có kết cục là thất bại.
Cách mạng Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo, “đen tối như không có đường ra” [72, tr. Yêu cầu lịch sử đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi cần phải giải quyết. 16 z Trong bối cảnh ấy, xuất hiện một nhân vật lịch sử - người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Sinh ra và lớn lên ở một gia đình nhà Nho yêu nước, vào thời điểm mà lịch sử dân tộc và quốc tế có những chuyển biến lớn, chứng kiến cảnh “nước mất, nhà tan”, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, có những trăn trở về thân phận con người, về vận nước.
Với ý chí và bầu nhiệt huyết, Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Cũng từ đó, bắt đầu hành trình cách mạng đầy gian khó, hy sinh của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, bắt đầu quá trình nhận thức, hình thành ở người thanh niên ấy những quan điểm cách mạng. Chọn hướng đi sang phương Tây, mà đích đến là nước Pháp, nơi có tư tưởng tự do, dân quyền, dân chủ và có khoa học, kỹ thuật hiện đại, với những danh từ mới lạ như Tự do, Bình đẳng, Bác ái., “muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy” [65, tr. 477], Nguyễn Tất Thành đã trải qua những năm tháng bôn ba, vừa nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm của nhiều cuộc cách mạng trên thế giới, vừa tham gia lao động, đấu tranh trong hàng ngũ giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới.
Sau một hành trình dài qua nhiều châu lục khác nhau (châu Âu, châu Phi, châu Mỹ), đi qua 24 nước, tận mắt chứng kiến những cảnh bần cùng của người lao động ở các xứ thuộc địa, cũng như những xóm nghèo ổ chuột ngoại ô thành phố Paris, đến những cảnh phồn hoa, đô thị tráng lệ như Luân đôn, Pairis, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã ngày càng làm giầu thêm nhận thức của mình, đúc rút những kết luận quan trọng về bạn, thù, về cách mạng DCTS, CMVS… để cuối cùng, vào tháng 7-1920, khi được tiếp xúc với bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V. Lênin (đăng trên báo Nhân đạo), Nguyễn Ái Quốc đã dứt khoát lực chọn con đường cứu nước cho dân tộc là con đường CMVS. 17 z Sau khi lựa chọn con đường cứu nước, tiếp thu học thuyết cách mạng và khoa học của V. Lênin, từ năm 1921 trở đi, cùng với việc thực hiện những nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh xúc tiến mạnh mẽ việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, từng bước chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho giai cấp công nhân Việt Nam thành lập chính đảng của mình.
Kết hợp với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm cách mạng thế giới, Người còn phác thảo ra con đường CMGPDT đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi. Trong hệ thống quan điểm về CMGPDT, Hồ Chí Minh giành một phần quan trọng để bàn về lực lượng cách mạng với những phát hiện mới mẻ và độc đáo. Đó cũng là một trong những tiền đề cơ bản hình thành nên quan điểm, tư tưởng về xây dựng lực lượng cách mạng sau này của Người. Tháng 2-1930, Đảng CSVN ra đời.
Ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh cách mạng, định hướng cho toàn bộ hoạt động đấu tranh. Có thể nói rằng, sự ra đời của Đảng CSVN và Cương lĩnh CMGPDT vào đầu năm 1930 đã đánh dấu sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, cũng như tư tưởng CMGPDT của Người nói riêng, trong đó có tư tưởng về xây dựng lực lượng cách mạng. Cơ sở hình thành Kinh nghiệm xây dựng lực lượng chống giặc ngoại xâm của cha ông Có điều kiện địa lý rất thuận lợi, nằm trên đầu mối của những luồng giao thông tự nhiên nối liền lục địa và đại dương, Việt Nam có vị trí chiến lược rất quan trọng trong giao lưu kinh tế, văn hóa. Vì lẽ đó, nước ta luôn bị các thế lực nước ngoài nhòm ngó, tìm cách tấn công.