TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG BÀI TẬP LỚN MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI: QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN TỪ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN ĐẾN CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM GVHD: Ths. Đào Thị Bích Hồng Nhóm lớp: A05 - Nhóm 12 TP. HỒ CHÍ MINH, 1 THÁNG 12 NĂM 2020 BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM 12 NHÓM TRƯỞNG (ghi rõ họ tên, ký tên) 2 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẨU.4 PHẦN NỘI DUNG. Bối cảnh lịch sử Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
Bối cảnh lịch sử. Bối cảnh thế giới. Bối cảnh Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên.
Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng từ 10-1930 đến tháng 5/1941. Luận cương chính trị. Bối cảnh ra đời của Luận cương chính trị. Nội dung của Luận cương chính trị.
So sánh Luận cương chính trị tháng 10/1930 và Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến 1945. Bối cảnh thế giới và Việt Nam. Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc.
Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân. Bối cảnh lịch sử và nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam. Bối cảnh lịch sử. Nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam.
Sự bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân\. Nội dung bổ sung, hoàn chỉnh. Giá trị thực tiễn.38 PHẦN KẾT LUẬN.42 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.43 3 PHẦN MỞ ĐẨU Thời gian chính là chặng đường để minh chứng cho mọi việc, nước ta dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, là thời gian mà đất nước và dân tộc vượt qua nhiều thách thức, có lúc hiểm nghèo. Mỗi lần vượt qua thách thức, Đảng và dân tộc ta lại trưởng thành, vươn lên tạo dựng những mốc son mới.
Những mốc son chói ngời đó chứng minh rõ tài năng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Chỉ điểm qua những kết quả nêu trên, có thể khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì thế để hiểu rõ hơn về sự trưởng thành ấy như thế nào, chúng ta cần biết về những đường lối cách mạng đầu tiên. Sự khởi nguồn của một dân tộc bất khuất và kiên cường, cùng sự may mắn khi có vị lãnh đạo kính mến Hồ Chí Minh – người đặt tiền đề cho Cương lĩnh chính trị đầu tiên.
Đồng thời sự thay đổi theo thời gian về đường lối cách mạng sẽ cho ta biết về lịch sử của nước nhà, giúp ta thêm trân trọng những điều bình thường thân thuộc xung quanh nhưng đó là sự hy sinh và đấu tranh không ngừng nghỉ của những người anh hùng Việt Nam đã ngã xuống cho Việt Nam tiến lên như ngày hôm nay. Những đặc điểm về kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách đầu tiên của Đảng sẽ được làm rõ thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930), đồng thời sẽ đề cập đến ưu điểm và hạn chế của văn kiện tiếp theo đó chính là Luận cương chính trị (10/1930). Tiếp đến sẽ phân tích quá trình khắc phục những hạn chế về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng bởi các Hội nghị 11/1939, 5/1941 và Chính cương Đảng Lao động Việt Nam. Cuối cùng là sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng đóng vai trò quan trọng như thế nào đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam.
4 PHẦN NỘI DUNG 1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 1. Bối cảnh lịch sử 1. Bối cảnh thế giới Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền.
Trong giai đoạn này, nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra nhu cầu cao về vấn đề thị trường như thị trường hàng hóa, tiền tệ, nguyên liệu sản xuất và đặc biệt là thị trường lao động với giá rẻ. Để giải quyết tất cả khó khăn về thị trường, các nước tư bản chọn giải pháp xâm chiếm các quốc gia khác. Dẫn đến các cuộc chiến tranh thôn tính các quốc gia khác để tạo nên các thuộc địa của mình. Một khi sự áp bức dân tộc ngày càng tăng, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân càng gay gắt.
Dẫn đến sự phản kháng của các dân tộc thuộc địa chống lại càng quyết liệt và mạnh mẽ. Tại các nước tư bản phát triển. Trong nền sản xuất tư bản , giai cấp công nhân đã ra đời. Tuy nhiên họ bị áp bức bóc lột nặng nề.
Cho đến giữa thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đã phát triển mạnh mẽ. Nhưng những phong trào này đã không thành công và rơi vào bế tắc vì họ chỉ dừng lại ở trình độ tự phát. Sự cần thiết của một hệ thống lý luận khoa học hay nói cách khác đó là vũ khí về mặt tư tưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Khi đó lý luận Mác – Lê-nin đã ra đời, xác định giai cấp công nhân có sức mạnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản để đi lên một xã hội phát triển hơn, đó là chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa Mác – Lê-nin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra Đảng Cộng sản… Vào năm 1917, cách mạng Tháng Mười Nga thành công, lần đầu tiên một cuộc cách mạng của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản giành được thắng lợi. Đây không chỉ là cuộc cách mạng chống đế quốc mà còn giúp giải phóng hàng loạt dân tộc thuộc địa bị đế quốc Nga thôn tính. Sự thành công này đã mở ra cho thế giới, các dân tộc bị áp bức bước vào thời đại chống đế quốc vào giải phóng cho dân tộc. Cách mạng Tháng 5 Mười Nga 6 đã thật sự cổ vũ mạnh mẽ các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên thế giới, thúc đẩy sự ra đời của nhiều đảng Cộng sản trên thế giới (Đảng Cộng sản Mông Cổ, Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, …).
Quốc tế cộng sản được thành lập (3/1919), có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, góp phần quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Bối cảnh Việt Nam Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Sau gần 30 năm chúng đã chinh phục được Việt Nam về mặt quân sự với hàng loạt Hiệp ước (Hiệp ước Nhâm Tuất 1862, Hiệp ước Giáp Tuất 1874, Hiệp ước Harmand 1883, Hiệp ước Patenotre 1884, …). Công cuộc bình định kéo dài 10 năm từ 1885 - 1896, sau đấy bắt tay vào khai thác thuộc địa với hai cuộc khai thác lớn: khai thác lần I từ 1897 đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất, khai thác lần II sau chiến tranh thứ nhất.
Về chính trị: thực dân Pháp thực hiện chính sách áp đặt chính trị, tước bỏ mọi quyền lực đối nội, đối ngoại đối với chính quyền phong kiến. Dù vẫn duy trì nhà nước phong kiến nhưng Pháp vẫn duy trì và lợi dụng chính quyền hiện tại để bóc lột người dân để thu lợi nhuận. Toàn bộ quyền đối nội, đối ngoại đều trong tay Toàn quyền Đông Dương đứng đầu là người Pháp, triều đình phong kiến hoàn toàn không có quyền lực. Thực hiện chính sách chia để trị, Pháp chia Việt Nam ra làm ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ với mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng để tạo chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Thực dân Pháp câu kết với địa chủ, bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam. Một bộ phận địa chủ trở thành tay sai cho Pháp vì lợi ích kinh tế, tuy nhiên không phải tất cả đều đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, vẫn còn những địa chủ có tinh thần dân tộc và chống Pháp đến cùng. Về kinh tế: tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền, đầu tư khai thác tài nguyên, giải quyết vấn đề thị trường nguồn nguyên liệu cho Pháp. Xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống giao thông, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của Pháp.
Thực dân Pháp độc chiếm thị trường Việt Nam, đánh thuế nặng, thuế mới chồng thuế cũ, nhiều loại thuế được đặt ra một cách vô lý làm cho đời sống nhân dân khốn khổ. 7 Mặc dù với những chính sách thống trị này nước ta có một số cơ sở đô thị mới, hệ thống giao thông phát 8 triển, bổ sung phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nhưng tất cả những hoạt động trên đều nhằm cho chính sách thống trị của Pháp, làm cho nền kinh tế Việt Nam bị kìm kẹp nặng nề, tiến triển chậm chạp, què quặt, phiến diện, lệ thuộc vào kinh tế Pháp. Về văn hóa: thực hiện chính sách ngu dân về giáo dục và đầu độc về văn hóa là một trong những biện pháp hỗ trợ đắc lực cho công cuộc khai thác Việt Nam. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh có viết: “Nhân dân Đông Dương khẩn khoản đòi mở trường học vì trường học thiếu một cách nghiêm trọng … Hàng ngàn trẻ em đành chịu ngu dốt vì nạn thiếu trường … Chính phủ thuộc địa tìm đủ mọi cách để ngăn cản không cho thanh niên An Nam sang du học bên Pháp … Làm cho ngu dân để dễ cai trị đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưu dùng nhất”1.
Chúng tăng cường chính sách đầu độc, trụy lạc hóa đối với người dân như: cờ bạc, uống rượu, thuốc phiện, mại dâm và mê tín dị đoan.