Tổng quan luận án
Giai đoạn 1954 - 1960 là thời kỳ lịch sử có tính chất đặc thù trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Sau khi Hiệp định Genève năm 1954 được ký kết, chính quyền Mỹ từng bước can thiệp, phế truất các lực lượng thân Pháp và thiết lập chính quyền Sài Gòn do Ngô Đình Diệm đứng đầu nhằm thực hiện mưu đồ phân chia lâu dài lãnh thổ Việt Nam. Trước các chiến dịch đàn áp, khủng bố khốc liệt từ bộ máy chính quyền Sài Gòn, lực lượng cách mạng tại miền Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng chịu nhiều tổn thất nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, việc bảo tồn, tái thiết và phát triển lực lượng cách mạng để tự vệ và tạo tiền đề cho phong trào Đồng Khởi trở thành một yêu cầu khách quan mang tính sống còn.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận án chỉ ra: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ trên quy mô toàn miền Nam hoặc khảo sát riêng lẻ từng địa phương, chuyên đề, nhưng chưa có công trình nào tái hiện và phân tích một cách toàn diện, có hệ thống quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng gắn liền với quá trình tiến tới cao trào Đồng Khởi trên toàn bộ không gian Nam Bộ xuyên suốt giai đoạn 1954 - 1960.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phục dựng quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng, tiến tới Đồng Khởi của quân và dân Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1960; phân tích, làm rõ những đặc điểm, vai trò, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể qua 4 nội dung:
- Trình bày quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng, tiến tới Đồng Khởi ở Nam Bộ những năm 1954 - 1960.
- Phân tích và đánh giá những phương cách đấu tranh của quân và dân Nam Bộ trong quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng, tiến tới Đồng Khởi giai đoạn 1954 - 1960.
- Lý giải nguyên nhân phong trào Đồng Khởi ở Nam Bộ bùng nổ mạnh mẽ, giành được những thắng lợi so với các địa phương khác ở miền Nam và được xem là ngọn cờ đầu của phong trào Đồng Khởi trên toàn miền Nam Việt Nam.
- Phân tích những đặc điểm, vai trò, hạn chế cùng những bài học kinh nghiệm của quân và dân Nam Bộ trong thực tiễn đấu tranh cách mạng trên địa bàn những năm 1954 - 1960.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng, tiến tới Đồng Khởi ở Nam Bộ (1954 - 1960), tập trung vào bối cảnh lịch sử, nguyên nhân, các hoạt động thực tiễn, kết quả, tác động lan tỏa của phong trào Đồng Khởi và các bài học lịch sử.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 7 năm 1954 (thời điểm ký kết Hiệp định Genève) đến cuối năm 1960 (thời điểm phong trào Đồng Khởi căn bản hoàn thành và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập).
- Phạm vi không gian: Địa bàn Nam Bộ theo địa giới hành chính giai đoạn 1954 - 1960, gồm các tỉnh: Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Gia Định, Chợ Lớn, Tây Ninh, Tân An, Kiến Tường, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Kiến Phong, Long Xuyên, Châu Đốc, Long Châu Hà, Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá (tương ứng với 19 tỉnh, thành phố trực thuộc Nam Bộ hiện nay).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại, điểm luận hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chính:
Nhóm công trình khoa học của các học giả quốc tế:
- Douglas Eugene Pike (1966) với Viet Cong: The Organization and Techniques of the National Liberation Front of South Vietnam (Massachusetts Institute of Technology) khảo sát tổ chức và chiến thuật của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
- Bernard B. Fall (1984) với Hai nước Việt Nam: một bản phân tích chính trị và quân sự (Westview Press) phân tích cấu trúc chính trị, quân sự hai miền và sự trỗi dậy của phong trào nổi dậy ở miền Nam.
- Văn phòng Chính phủ Mỹ (1984) với công trình Chính phủ Mỹ và chiến tranh Việt Nam, phần 1: 1945 - 1961 phản ánh quá trình can thiệp của Mỹ và sự hình thành chính quyền Ngô Đình Diệm.
- Daniel Ellsberg (1985) với Những bí mật của chiến tranh Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia) công bố các tư liệu giải mật về chính sách can thiệp của chính quyền Washington.
- Robert Strange McNamara (1995) với hồi ký Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và những bài học kinh nghiệm về Việt Nam (Random House).
- Stanley Karnow (1997) với Việt Nam - một thiên lịch sử (Penguin Books) phân tích tiến trình chính sách của Mỹ qua các giai đoạn.
- Gabriel Kolko (2003) với Giải phẫu một cuộc chiến tranh (NXB Quân đội Nhân dân) luận giải nguồn gốc can thiệp và giới hạn trong chiến lược của Mỹ.
- George C. Herring (2004) với Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ và Việt Nam (1950 - 1975) (NXB Công an Nhân dân).
- Thomas L. Ahern Jr (2010) với Việt Nam đã được giải mật: CIA và chống nổi dậy (Đại học Kentucky) cung cấp dữ liệu về vai trò của CIA trong bình định nông thôn.
- Pierre Asselin (2013) với Con đường của Hà Nội đến chiến tranh Việt Nam, 1954 - 1965 (University of California Press) phân tích các quyết sách của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Edward Miller (2016) với Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia - Sự thật) làm rõ quan hệ giữa chính quyền Eisenhower và Ngô Đình Diệm.
Nhóm công trình khoa học chung trong nước:
- Cao Văn Lượng, Bùi Đình Thanh, Nguyễn Công Bình, Bùi Hữu Khánh, Hoàng Lượng (1962) với Tám năm đấu tranh anh dũng và gian khổ của đồng bào miền Nam (Viện Sử học).
- Trần Văn Giàu (1964, 1966) với bộ sách Miền Nam giữ vững thành đồng (Tập 1) và bài báo Ba mũi giáp công trong cuộc chiến tranh nhân dân chống Mỹ và tay sai ở miền Nam trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 86.
- Bùi Đình Thanh (1964) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 64 về sự kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.
- Nguyễn Thị Định (1969, 1985) với hồi ký Không còn đường nào khác (NXB Phụ nữ) và bài báo về đấu tranh chính trị trên Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội số 29.
- Tô Minh Trung (1969), Quỳnh Cư (1980) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử về đội quân chính trị và ngọn cờ đầu Bến Tre.
- Cao Văn Lượng, Phạm Quang Toàn, Quỳnh Cư (1981) với Tìm hiểu phong trào Đồng Khởi ở miền Nam Việt Nam (NXB Khoa học Xã hội); Cao Văn Lượng (1991, 1995) với Lịch sử cách mạng miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960 và Lịch sử Việt Nam 1954 - 1965.
- Nhóm tác giả công trình Chung một bóng cờ (1993); Ban Chỉ đạo Tổng kết Chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995) với Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học; Đỗ Mậu (1998) với Tâm sự tướng lưu vong; Trần Văn Trà (2005) với Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm; Trần Trọng Trung (2005) với Nhà Trắng với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam; Lê Hồng Lĩnh (2006) với Cuộc Đồng Khởi kỳ diệu ở miền Nam Việt Nam; Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013) với bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975).
Nhóm công trình khoa học địa phương và chuyên đề tại Nam Bộ:
- Việt Hồng (1974) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 155; Lê Quốc Sản (1991) với Cuộc đọ sức thần kỳ tại Khu 8; Võ Trần Nhã (1993) với Lịch sử Đồng Tháp Mười; Bộ Tư lệnh Quân khu 9 (1996, 1998) với Quân khu 9 ba mươi năm kháng chiến; Ban Chỉ đạo lịch sử kháng chiến Khu 8 (1997, 1998); Ban Chỉ đạo truyền thống Tây Nam Bộ (2000, 2008); Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang (2000, 2003); Hội đồng biên soạn lịch sử miền Đông Nam Bộ (2003); Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (2005, 2010); Lịch sử phụ nữ Nam Bộ kháng chiến (2006); Hồ Sơn Đài (2008, 2010); Hà Minh Hồng (2008); Viện Lịch sử Công an (2010); Lịch sử Nam Bộ kháng chiến tập 2 (2010); Nguyễn Quý (2015); Quỳnh Cư (1985); Lâm Quang Láng (2012); Lê Đình Hùng (2016); cùng hệ thống lịch sử Đảng bộ các tỉnh, thành Nam Bộ.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Luận án kế thừa các tư liệu và nhận định khoa học đã công bố, đồng thời khắc phục tính phân tán của các công trình đi trước bằng việc tổng hợp, phân tích có hệ thống toàn bộ quá trình giữ gìn, củng cố và xây dựng lực lượng cách mạng trên cả 3 địa bàn (miền Đông, miền Trung, miền Tây Nam Bộ) để làm rõ mối quan hệ nhân - quả dẫn đến sự bùng nổ của phong trào Đồng Khởi 1959 - 1960.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng Lao động Việt Nam về chiến tranh cách mạng, khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh nhân dân.
Các khái niệm trung tâm được chuẩn hóa trong luận án:
- Lực lượng cách mạng: Bao gồm lực lượng chính trị của quần chúng (các hội nông dân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nghiệp đoàn, lực lượng tôn giáo, đảng phái và hệ thống cơ sở bí mật được cài lại sau năm 1954) kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân (hình thành từ các đội tự vệ, đội dân canh chống cướp, vũ trang giáo phái ly khai, vũ trang tuyên truyền, sau đó phát triển thành lực lượng vũ trang địa phương và quân chủ lực).
- Đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng: Quá trình bảo vệ, duy trì hoạt động của các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên và cơ sở quần chúng được bố trí ở lại sau Hiệp định Genève 1954; đồng thời từng bước khôi phục, củng cố và phát triển tổ chức, căn cứ địa, lực lượng vũ trang tự vệ nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển hướng của cách mạng miền Nam.
- Đồng Khởi: Hình thức khởi nghĩa từng phần diễn ra đồng loạt trên diện rộng ở vùng nông thôn miền Nam trong các năm 1959 - 1960, kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang để đánh phá hệ thống kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn tại cơ sở, giành quyền làm chủ.
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chủ đạo. Phương pháp lịch sử được dùng để phục dựng tiến trình sự kiện theo trình tự thời gian và bối cảnh thực tế. Phương pháp logic được sử dụng để phân tích bản chất các sự kiện, đánh giá sự chuyển biến về phương thức đấu tranh, rút ra đặc điểm, vai trò, hạn chế và bài học kinh nghiệm. Ngoài ra, tác giả kết hợp các kỹ thuật phân tích văn bản, so sánh, đối chiếu và tổng hợp tư liệu.
Nguồn tư liệu sử dụng:
- Nguồn tài liệu đã xuất bản: Các văn kiện của Đảng, tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hồi ký của các cán bộ lãnh đạo chỉ huy chiến trường, các công trình khảo cứu, sách chuyên khảo, bài báo khoa học.
- Nguồn tài liệu lưu trữ: Hệ thống chỉ thị, báo cáo, tổng kết của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam, các Tỉnh ủy, Quân khu 7, Quân khu 9; các tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và các cơ quan cố vấn Mỹ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II tại TP. Hồ Chí Minh (báo cáo của Tỉnh trưởng các tỉnh Nam phần, hồ sơ Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa, Phủ Thủ tướng, Phủ Tổng ủy Dinh điền, Tòa Đại biểu Chính phủ tại Nam phần).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương này trình bày và chuẩn hóa hệ thống khái niệm công cụ sử dụng trong toàn văn bản, bao gồm: Lực lượng cách mạng, Đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng, và Đồng Khởi.
Tác giả phân tích tình hình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước theo từng nhóm công trình, chỉ rõ các nội dung đã được làm sáng tỏ và các khoảng trống cần giải quyết. Chương 1 xác định 6 vấn đề trọng tâm mà luận án trực tiếp đi sâu: bối cảnh lịch sử xác lập nhiệm vụ giữ gìn lực lượng; tiến trình thực tiễn bảo tồn và phát triển lực lượng; các hình thức đấu tranh linh hoạt của quân và dân Nam Bộ; nguyên nhân Nam Bộ trở thành trung tâm của phong trào Đồng Khởi; tác động lan tỏa của phong trào ra toàn miền Nam; và việc tổng kết các bài học lịch sử.
Chương 2: Nhân dân Nam Bộ đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng trong những năm 1954 - 1959
Nội dung chương tập trung làm rõ bối cảnh phức tạp tại Nam Bộ sau tháng 7 năm 1954. Dưới sự hỗ trợ của cố vấn Mỹ (tiêu biểu như Edward Lansdale), Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam ngày 7/7/1954, sau đó tiến hành phế truất Bảo Đại qua cuộc trưng cầu dân ý ngày 26/10/1955 để thành lập chính thể Việt Nam Cộng hòa.
Tài liệu văn bản ghi nhận thực trạng cát cứ của các lực lượng tôn giáo, đảng phái tại Nam Bộ năm 1954: Cao Đài có 2 triệu tín đồ và 20.000 quân kiểm soát phần lớn đồng bằng sông Cửu Long; Hòa Hảo có 1 triệu tín đồ và 15.000 quân ở khu vực tây bắc Sài Gòn; Bình Xuyên có 25.000 quân kiểm soát cảnh sát và nguồn thu tại Sài Gòn. Ba lực lượng này kiểm soát khoảng 1/3 lãnh thổ và dân số phía nam vĩ tuyến 17 trước khi bị chính quyền Ngô Đình Diệm đánh bại hoặc phân hóa.
Về phía Mỹ, ngày 8/9/1954 thành lập khối SEATO; bổ nhiệm Collins làm đại sứ từ 17/11/1954 với kế hoạch 6 điểm nhằm xây dựng quân đội Sài Gòn 15 vạn quân, viện trợ kinh tế hơn 1,5 tỷ USD và 500 triệu USD viện trợ quân sự trong giai đoạn 1955 - 1961.
| Sự kiện / Chính sách |
Thời gian |
Nội dung / Dữ liệu cụ thể |
| Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 |
15/7 - 17/7/1954 |
Xác định đế quốc Mỹ là kẻ thù trực tiếp; đề ra phương châm kết hợp hợp pháp và không hợp pháp, bảo vệ lực lượng bí mật. |
| Chỉ thị và Nghị quyết của Bộ Chính trị |
6/9 & 7/9/1954 |
Chuyển phương thức từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị, đòi thi hành Hiệp định Genève, chống khủng bố. |
| Tập kết chuyển quân tại Nam Bộ |
1954 - 1955 |
Khu vực tập kết Xuyên Mộc - Hàm Tân (80 ngày), Cao Lãnh (100 ngày), Cà Mau (200 ngày, chiếm 2/3 diện tích Bạc Liêu). |
| Chính sách xã hội tại vùng tập kết |
1954 - 1955 |
Cấp phát ruộng đất cho nông dân, xóa mù chữ đạt tỷ lệ 75% tại vùng Cà Mau, xây dựng mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc tại Cao Lãnh. |
Trong giai đoạn 1954 - 1956, nhân dân Nam Bộ tập trung đấu tranh chính trị đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống chiến dịch "tố Cộng, diệt Cộng". Giai đoạn 1957 - 1959, trước sự đàn áp khốc liệt của đối phương, phong trào chuyển dần sang xây dựng thế trận lòng dân, đẩy mạnh công tác binh vận, bí mật phục hồi các căn cứ địa (chiến khu Đ, Đồng Tháp Mười, U Minh) và thành lập các đội vũ trang tự vệ (đội diệt ác trừ gian, vũ trang tuyên truyền) kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang tự vệ.
Chương 3: Phát triển lực lượng cách mạng tiến tới Đồng Khởi ở Nam Bộ (1959 - 1960)
Chương 3 trình bày sự chuyển biến bước ngoặt của phong trào cách mạng sau khi Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 15 (đầu năm 1959). Nghị quyết xác định con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằng kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang.
Trên cơ sở Nghị quyết 15 và chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, các tỉnh tiến hành củng cố chi bộ Đảng, phát triển các hội đoàn quần chúng, xây dựng các đơn vị vũ trang tập trung và du kích cơ sở. Phong trào bùng nổ mạnh mẽ với hai sự kiện tiêu biểu:
- Cuộc Đồng Khởi tại Bến Tre (bắt đầu ngày 17/1/1960 tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày), sau đó lan rộng ra khắp các tỉnh miền Trung và Tây Nam Bộ.
- Trận tập kích Tua Hai (Tây Ninh, đêm 25 rạng ngày 26/1/1960), tiêu diệt và làm tan rã căn cứ quân sự của quân đội Sài Gòn, mở đầu cho phong trào Đồng Khởi tại miền Đông Nam Bộ.
Chương này phân tích sự hình thành của "đội quân tóc dài", nghệ thuật phối hợp "ba mũi giáp công" (chính trị, vũ trang, binh vận), làm tan rã từng mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở của Việt Nam Cộng hòa, đưa phong trào phát triển thành cao trào toàn miền và dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20/12/1960.
Chương 4: Một số nhận xét, đánh giá về quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng, tiến tới Đồng Khởi ở Nam Bộ (1954 - 1960)
Chương 4 đúc kết các nhận định tổng quát trên 4 khía cạnh:
- Đặc điểm: Nam Bộ là địa bàn chịu sự đánh phá khốc liệt nhất của chính quyền Sài Gòn nhưng cũng là nơi sớm tiếp cận các chủ trương chỉ đạo chuyển hướng của Đảng; thành phần tham gia phong trào đa dạng (công nhân, nông dân, trí thức, học sinh, sinh viên, giáo phái); hình thức đấu tranh phong phú (chính trị, vũ trang, binh vận, đấu tranh công khai qua báo chí đô thị Sài Gòn).
- Vai trò, ý nghĩa: Đỉnh cao Đồng Khởi tạo bước chuyển chiến lược đưa cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công; hình thành hệ thống căn cứ địa và hậu phương tại chỗ; xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, tạo tiền đề chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng.
- Hạn chế: Sau tháng 7/1954, một số cấp ủy địa phương chưa đánh giá hết bản chất của đối phương; giai đoạn 1954 - 1956 quá chú trọng đấu tranh chính trị đơn thuần mà thiếu chủ động xây dựng lực lượng vũ trang tự vệ; từ cuối năm 1956 có biểu hiện chậm tham mưu, bị động chờ chủ trương cấp trên; giai đoạn 1957 - 1959 việc kết hợp vũ trang chưa đồng bộ; phong trào Đồng Khởi tập trung chủ yếu ở nông thôn, chưa tạo được sự phối hợp đồng loạt với phong trào tại đô thị.
- Bài học kinh nghiệm:
- Luôn đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận định chính xác bản chất, âm mưu của đối phương để đề ra đường lối đấu tranh kịp thời, phù hợp thực tiễn.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là vai trò của lực lượng phụ nữ ("đội quân tóc dài").
- Vận dụng linh hoạt, kết hợp nhiều hình thức và phương pháp đấu tranh để bảo tồn, phát triển lực lượng.
- Kết hợp chặt chẽ việc xây dựng lực lượng vũ trang với việc củng cố căn cứ địa và xây dựng thế trận lòng dân.
- Luôn giữ vững và phát triển thế tiến công cách mạng trong mọi hoàn cảnh.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Luận án đã phục dựng bức tranh lịch sử hoàn chỉnh về quá trình đấu tranh giữ gìn, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng tại Nam Bộ trong giai đoạn 1954 - 1960.
- Làm rõ tính quy luật của quá trình chuyển biến từ đấu tranh chính trị đơn thuần sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang tự vệ, tiến tới khởi nghĩa từng phần.
- Luận giải cơ sở thực tiễn khẳng định Nam Bộ là ngọn cờ đầu, nơi khởi phát của phong trào Đồng Khởi trên toàn miền Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn và tư liệu:
- Khai thác, đối chiếu và công bố khối lượng lớn tư liệu lưu trữ từ hai phía (văn kiện cách mạng và hồ sơ lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II).
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Việt Nam hiện đại, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và lịch sử địa phương Nam Bộ.
- Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho công tác xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và bảo vệ an ninh quốc gia trong giai đoạn hiện nay.
Kiến nghị của tác giả: Đề xuất tiếp tục vận dụng các bài học về xây dựng thế trận lòng dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và phương thức nắm bắt tình hình thực tiễn vào nhiệm vụ củng cố an ninh - quốc phòng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian 1954 - 1960 trên địa bàn Nam Bộ, chưa có điều kiện so sánh sâu với các chiến trường khác như Liên khu 5 hay Tây Nguyên. Việc tiếp cận nguồn tài liệu lưu trữ của đối phương vẫn chịu giới hạn bởi độ phân tán của hồ sơ quản lý hành chính thời kỳ 1954 - 1963.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh tiến trình giữ gìn lực lượng và khởi nghĩa từng phần giữa Nam Bộ với các chiến trường khác ở miền Nam.
- Tiếp tục sưu tầm, giải mật và đối chiếu các nguồn tài liệu lưu trữ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn để làm rõ hơn các biện pháp đối phó của đối phương đối với lực lượng cách mạng cơ sở.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo phục vụ trực tiếp cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quân sự.
- Giảng viên các trường đại học, cao đẳng giảng dạy học phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 và Lịch sử Đảng bộ địa phương các tỉnh Nam Bộ.
- Cán bộ nghiên cứu tại các cơ quan nghiên cứu lịch sử Đảng, Viện Lịch sử Quân sự, Ban Tuyên giáo các Tỉnh ủy, Thành ủy khu vực phía Nam.
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất gồm: hệ thống phân loại tài liệu lưu trữ đối chiếu tại Chương 1; các số liệu lịch sử về chuyển quân tập kết và biến động chính trị tại Chương 2; diễn biến phong trào Đồng Khởi và trận Tua Hai tại Chương 3; cùng hệ thống 5 bài học kinh nghiệm tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Chủ trương chuyển hướng phương thức đấu tranh của Đảng sau Hiệp định Genève 1954 được thể hiện qua các văn kiện nào?
Chủ trương này được xác định trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 mở rộng (15 - 17/7/1954), Chỉ thị của Bộ Chính trị (6/9/1954) và Nghị quyết của Bộ Chính trị (7/9/1954), chuyển phương thức từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị hòa bình nhằm đòi thi hành Hiệp định.
2. Công tác chuyển quân tập kết tại Nam Bộ sau năm 1954 được bố trí tại các khu vực nào và trong thời gian bao lâu?
Lực lượng cách mạng Nam Bộ bố trí 3 khu tập kết tạm thời: Xuyên Mộc - Hàm Tân (80 ngày), Cao Lãnh (100 ngày) và khu vực Cà Mau (200 ngày, chiếm 2/3 diện tích tỉnh Bạc Liêu lúc bấy giờ).
3. Thực trạng cát cứ của các lực lượng giáo phái, đảng phái tại Nam Bộ năm 1954 được ghi nhận như thế nào?
Theo tài liệu ghi nhận, Cao Đài có 2 triệu tín đồ và 20.000 quân; Hòa Hảo có 1 triệu tín đồ và 15.000 quân; Bình Xuyên có 25.000 quân kiểm soát cảnh sát Sài Gòn. Ba tổ chức này kiểm soát khoảng 1/3 lãnh thổ và dân số phía nam vĩ tuyến 17 trước khi bị chính quyền Ngô Đình Diệm trấn áp.
4. Hai sự kiện mở đầu phong trào Đồng Khởi ở Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ là những sự kiện nào?
Đó là cuộc nổi dậy của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (ngày 17/1/1960) mở đầu cho phong trào ở miền Tây và Trung Nam Bộ; và trận tập kích căn cứ Tua Hai tại Tây Ninh (đêm 25 rạng ngày 26/1/1960) mở đầu cho phong trào ở miền Đông Nam Bộ.
5. Luận án đúc kết bao nhiêu bài học kinh nghiệm lịch sử từ phong trào?
Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm: đề cao tinh thần cảnh giác và nhận thức đúng kẻ thù; phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng và "đội quân tóc dài"; linh hoạt kết hợp các biện pháp đấu tranh; gắn xây dựng lực lượng vũ trang với căn cứ địa và thế trận lòng dân; luôn giữ vững thế tiến công cách mạng.
Kết luận
Luận án của tác giả Thái Văn Thơ là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo tái hiện có hệ thống quá trình bảo tồn, xây dựng lực lượng cách mạng và cao trào Đồng Khởi tại Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1960. Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ đối chiếu từ hai phía, tác giả đã làm rõ các bước chuyển biến chiến lược từ đấu tranh chính trị sang kết hợp đấu tranh vũ trang tự vệ, lý giải nguyên nhân thắng lợi của phong trào Đồng Khởi và tổng kết các bài học lịch sử có giá trị khoa học và thực tiễn. Công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ hiệu quả cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Việt Nam hiện đại.