mở đầu cho quá trình xâm lược và dat ách cai trị trên đất nước ta. Từ đó, xã hôi Việt Nam chuyển từ chế độ phong kiến thuần tuý sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến, kéo theo những sự biến đổi sâu sắc diễn ra trong xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa — xã hội. Về chính trị, Pháp thực hiện nén chuyên chính độc tài, thâu tóm moi quyền hành trong tay bọn toàn quyển, khâm sứ, biến vua quan Nam triểu hoàn toàn thành những tên bù nhìn tay sai ngoan ngoãn. Đi đôi với chính sách đàn 4p khủng bố rất tàn bạo, đế quốc Pháp còn thi hành chính sách chia để trị hết sức thâm độc.
Chúng chia cắt Việt Nam thành ba kỳ, mỗi kỳ giữa các tốn giáo, các dẫn tộc Việt Nam và giữa các dan tộc Dong Dương. Moi quyển tự do dan chủ của nhân dân Việt Nam déu bị bóp nghẹt, Moi hoạt động yêu nước đều bị dan áp khốc liệt. Mọi trào lưu tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài vào Việt Nam đều bị ngăn chan, cấm ngặt, Về kinh tế, Pháp thực hiện chính sách độc quyển rất phản động. Chúng áp đặt phương thức sản xuất tư ban chủ nghĩa từ bên ngoài vào nhưng lại không phá bỏ chế độ phong kiến để cho chủ nghĩa tư bản dân tộc được tự do phát triển, trái lại, chúng vẫn dung dưỡng chế độ lỗi thời đó để kim hãm nhân dan ta và bóc lột nhiều hơn.
Dude ách thống trị của thực dẫn Phán và họn vua quan phong kiến, người dân Việt Nam phải chịu đủ mọi thứ thuế : thuế thần, thuế đất, thuế rượu, thuế muối,. cùng nhiều dam phụ, công trái và các thứ thuế khác rất võ lý. Chính sách kinh tế phản đông của đế quốc Pháp đã làm cho nhãn dan Việt Nam bj ban cùng, điêu đứng: đã kìm hãm nền kinh tế Việt Nam trong vòng lạc hậu và biến nền kinh tế ‘eta nước ta hoàn toàn lẽ thuộc vào nền kinh tế của nước Pháp. Về văn hoá — giáo dục : Pháp thi hành chính sách ngu dan né dịch.
Chúng khuyến khích những đổi phong bại tục, gây tâm lý tý ti, vong bản hết sức nang nể, Thực dân Pháp lập nhà tù nhiều hơn trường: học. Lịch sử thống trị gan một thé kỷ qua của để quốc Pháp ở Việt Nam tự nó tế cáo hùng hẳn rằng đế quốc Pháp không phải là ké dem van minh phương Tây đến “ khai hóa” cho nhẫn dan ta như chúng thường hay rêu rao: ngược lại, chúng là tên tôi phạm đã cố tình đẩy nhân dân ta vào vòng tối tăm, đốt nat nghèo nan, lạc hậu. SVTH: Lin Mai Hoa. trị, đồng thời để mua chuộc va cũng cố lòng tin cho bon tay sai của chúng, để quốc Pháp lập một số công ty kinh doanh công nghiệp không quan trang, cho đấu thấu một số công trình thủy lợi , cầu đường, kiến trúc tương ứng với số vốn nhỏ của tư bản bản xứ.
Chúng cấp thêm học bổng cho con chau bon quan lại và một số người thuộc tang lớp bóc lột đang du học ở Pháp. Chúng cho một số công chức lên “ngạch Âu” hưởng lượng theo chế độ công chức người Pháp. Ngoài ra, để quốc Pháp con ra sức khuyến khích, phát triển tôn giáo va các tỷ nạn mé tin dị đoan. Chúng tạo mọi điểu kiện thuận lợi cho bon cha cổ phan động củngcố và mở rộng đạo Thiên Chúa, hướng trọng tâm vào những địa phương có phong trào cách mạng để ru ngủ quảa chúng và nhá hoài phong tao.
Chúng sai bon quan lại phong kiến cấp cao và một sé trí thức , than hào đứng ra thành lap các xứ hội, tỉnh hội Phật học ở miễn Bắc và miễn Trung. Ở miền Nam, chúng cho phát triển đạo Cao Đài , cho tổ chức các chỉ phái Phật giáo. Để trụy lạc thanh niên về mặt tinh than , chúng cho xuất bản những tiểu thuyết với nội dung tư tưởng lãng mạn, đổi trụy xa rời thực tế, những truyện than tiên, kiếm hiệp và các loại sách “xem bói “, "xem tướng”. Đồng thời, chúng khuyến khích mở nhiều sdng bạc.
tiệm hút thuốc phiên, tiệm nhảy, nhà chứa. Chủ trương, chính sách của đế quốc Pháp không thể che giấu được âm mưu của chúng là tăng cường dan áp, bóc lột và làm phá sản triệt để các tầng lớp nhãn dân, bù đắn cho những thiệt hai của bọn tư bản Pháp trong khủ vw hoảng kinh tế. Những chính sách và thủ đoạn thảm độc của dé cảng bal mãn và căm ghét chúng. Tình hình đó đã làm cho thái độ chính trị của các giai cấp trong xã hội Việt Nam biến đổi.
Bên cạnh các giai cấp ci (giai cap địa chủ, phong kiến lỗi thời, phản động và giai cấp nông dân ban cũng do bị bóc lột) đã xuất hiện những giai cấp mới, Giai cấp tư sản Việt Nam mới ra đời từ những năm sau chiến tranh thé giới lan thứ nhất, vào thời kỳ khai thác thuộc địa lẫn thứ hai của đế quốc Pháp ở nước ta, Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản phân hoá làm hai hộ phận : giai cấp tư sản mại bản và giai cấp tư sản dân tộc. Giai cấp tư sản mại bản bao gồm những nhà tư sản có quven lợi gắn liên với để quốc, Ho là một lực lượng phản cách mang,nén cũng như giai cấn địa chủ. họ là đối tượng của cách mạng. Chai cấp tư sản dân tộc có quan hệ phan nào về kinh té với đểquốc và phong kiến, làm giàu bằng cách bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân lao đông, song họ lại bị để quốc và phong kiến chèn ép, nên thế lực kinh tế của họ rất nhỏ hé, Do đó, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam có tính chất hai mat: Mét mat, vì có mâu thuẫn về quyển lợi với dé quốc phong kiến, có tinh than yêu nước, tán thành độc lập và dân chủ tự do.
Mat khác, do địa vj kinh tế thấp kém và sinh sau đẻ muộn, nên họ vốn bap bénh, thiếu kién định, càng hết sức dao động, ngả nghiêng. Giai cấp tiểu tư sản Việt Nam có mức sống ít nhiều bap bênh, luôn bị de doa phá sản, thất nghiệp. Do bị đế quốc và phong kiến áp bức. chèn ép và khinh miệt, họ có tinh than dân tộc và dân chủ cao, đặc biệt là tang lớp tiểu tư sản trí thức học sinh.
Tang lớp này thường tỏ ra nhạy cảm với thời SVTH: Lin Mat Hos ý 0ˆ 7c cu ee (ah Trang 3 1 trò ngồi pháo trong phong trào đấu tranh của nhân dân ta, nhất là ở thành thị, Nói chung, giai cấp tiểu tư sản hãng hái , bổng bột cách mạng, nhưng vì địa vị kinh tế không ổn định, thái độ chính trị hay ngả nghiêng, dao động. do đó họ không thể lãnh đạo cách mạng. - Giai cấp công nhãn Việt Nam ra đời không phải gắn liển với sự phat sinh và phát triển của chủ nghĩa tư bản dân tộc, mà gắn liễn với sự xuất hiện của chủ nghĩa tử bản Pháp đ Việt Nam. La sản phẩm trực tiếp của chỉnh sách thuộc địa của để quốc Pháp ngay từbuổi đầu khai thác nước ta.
giai cấp công nhãn Việt Nam là giai cấp công nhân hiện đại, nim trong các mach máu kinh tế quan trong do để quốc nấm giữ, Giai cấp cêng nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam nên không chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ hội. chủ nghĩa cải lương, được kế thừa truyền thống bat khuất của dan tộc. vita lđn lên lại tiếp thu ngay ánh sáng của chủ nghĩa Marx - Lenine, cho nên tinh than cách mang của giai cấp đó được tăng lên, họ - nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị độc lận, tự giác , thống nhất trong cả nước, 1.2 Mâut F xã hội Việt Nam: Do tình hình kinh tế, xã hội nêu trên, trong xã hội Việt Nam tổn tại hai mầu thuẫn cơ ban. Mat ld mau thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc xâm dan, với giai cấp địa chủ phong kiến.
Hai mâu thuẫn này gắn bó mật thiết với nhau, phải đồng thời giải quyết thì xã hội Việt Nam mới tiến lên được. Tién đỗ của đất nước, vận mệnh của din tộc đang đòi hỏi phải có một đường lối lãnh đạo đúng din, một đường lối vừa đáp ứng được day đủ những yêu cau trên đây của xã hội Việt Nam, đồng thời vừa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới. thời đại cách mạng võ san, vin Cac phong trio din tộc ở Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp“đến irihic khi có Bang cộng sản Việt Nam về cơ bản đều diễn ra trên cơ sở những mẫu thuận đó. Các cuộc vận đông yêu nước, giải phóng dan tộc ở nước ta với những màu sắc khác nhau đã kế tiếp nhau phát triển không lúc niu nưữau - phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ (1861-1868) : phong trào Cần Vương ở Trung Kỳ (1885-1913) ; cuộc vận động lập hội Dus Tân và phòng trio Đông Du (1904-1908) ; phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở Bắc Ky (1907),., Qua các cuộc van động đó, biết bao anh hùng, chiến sỹ đã hy sinh, tô thấm thêm đồng mầu quật cường, bất khuất của dẫn tộc Việt Nam, Song, sư nghiệp giải phóng dẫn tộc vẫn chưa thành, tinh hình còn den tối tưởng chừng không có đường ra, Sở đi như vậy là vì ở nước ta thời kỳ đó côn thiếu một giai cấp tiên phong đưa đường dẫn lối, chưa có một chính đảng cách mạng nào có thể để ra được một đường lối đáp ứng đúng yêu cầu của lịch sử.
Các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, tiểu tư san dân khỏi thiếu sót căn bản là chưa nhằm đánh vào chế độ phong kiến, không nhìn thấy lực lượng cách mạng to lớn, đông đảo nhất là nông dân, không cé ý thức phát động nông dan, vì thế không đại biểu được cho phong trào daz tộc, Một điểm thiếu sót căn bản nữa va quan trọng nhất, hay nói đúng hor là nhược điểm, là các nhà lãnh đạo phong trào yêu nước ở nước ta do vị tr giai cấp của mình và những điểu kiện lịch sử hạn chế lúc đó nên không thé nào tiến tới trình độ hiểu được rằng thể giđi đã bước vào thời đại mới, dé là thời đại của cách mang vỗ sản, thời đại ma gia cấp vô sản đang đứng ¢ trun# tâm của lịch sử, thời đại mà dong lực cách mạng chỉ có thể là nông dan và công nhân. thời đại mà sự nghiện giải phóng dân tộc nhải gắn liễ: với cách mang vô sản. với chủ nghĩa xã hội mới giành được thang lợi.