phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết 11 Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 1. KHÁI NIỆM NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ CÁC HÌNH THỨC NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 1. Khái niệm về nhà nƣớc pháp quyền Khái niệm NNPQ đã được các nhà khoa học nghiên cứu đến nay chưa có một định nghĩa chung nhất. Dựa trên cơ sở lý luận, cũng như quá trình diễn ra trong thực tiễn, tiếp cận các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm NNPQ ở góc độ cụ thể như luật học, triết học, sử học., trên cơ sở liệt kê các dấu hiệu đặc trưng của nó, và cũng có thể tiếp cận khái niệm NNPQ bằng cách phân tích mối quan hệ giữa khái niệm NNPQ với những khái niệm khác và đặt chúng trong một mối quan hệ biện chứng với nhau trong một thể thống nhất của NNPQ như: pháp quyền với dân chủ, pháp quyền với vấn đề lý thuyết tam quyền phân lập, pháp quyền với cơ cấu kinh tế, pháp quyền với đạo đức, pháp quyền với các tổ chức xã hội, v…v… Thuật ngữ luật học Rechtsstaat (Recht có nghĩa là nhà nước; staat là luật) được khởi xướng bởi các học giả người Đức, trong khi đó thuật ngữ Rule of Law trong cách gọi Anh ngữ hoàn toàn có một nội dung khác, État de droit của Pháp và Pravovoe gosudarstvo của Nga đều có nghĩa hoặc suy rộng ra có nghĩa là “Nhà nước phải chịu sự ràng buộc của pháp luật hay là sự yêu cầu về sự tuân thủ pháp luật”.
Được chuyển khá nhiều nghĩa trong tiếng Anh: “legal state”, “state of law”, “state of justice” hoặc “state of rights”. được xem như là một nhà nước hợp hiến. Khái niệm NNPQ có nguồn gốc được lấy cảm hứng từ học thuyết luật thực chứng, đặt luật pháp của nhà nước trên nền tảng của lý trí. Welcker, Aretin và Mohl là những người đầu tiên đề cập tới khái niệm này, họ cho rằng NNPQ là một thể loại nhà nước chuyên biệt chứ không phải là một hình thái đặc biệt của 12 nhà nước.
Cả ba nhà tư tưởng đều thống nhất ở việc khẳng định NNPQ là nhà nước tôn trọng luật thiên về lý tính, dựa theo nguyên tắc lý tính này nhà nước sẽ thực hiện việc sống chung của con người và mục tiêu căn bản của NNPQ là “làm thế nào để tổ chức được đời sống nhân dân sao cho mỗi thành viên trong đó nhận được sự giúp đỡ và khuyến khích sự phát triển tự do tối đa và hoàn thiện năng lực tổng hợp của mình” (Đào Trí Úc, 2005, trang 18) Tại Hội nghị quốc tế về “Nhà nước pháp quyền” (09/1991), Liên hợp quốc lần đầu tiên đưa khái niệm NNPQ như sau: xem NNPQ là một chế độ mà ở đó tất cả mọi công dân kể cả nhà nước đều phải tuân thủ pháp luật; quyền và nghĩa vụ của mọi người dân được pháp luật ghi nhận,… hướng đến tôn trọng những giá trị của con người; Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, dựa trên pháp luật; Hiếp pháp giữ vị trí tối thượng và nó được xây dựng trên cơ sở phảo đảm bảo các quyền tự do và quyền công dân của mỗi con người. (dẫn theo Hoàng Văn Nghĩa, 2014) Sự đồng tình của các chuyên gia nghiên cứu đã đi tới thống nhất ý kiến cho rằng NNPQ bao gồm: sự thừa nhận tính tối cao của pháp luật; việc xác định ba quyền lực tồn tại trong bộ máy quyền lực nhà nước; việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng pháp luật quốc tế v…v. Với quan niệm về pháp quyền như trên, ở các quốc gia cũng như các tổ chức trên thế giới ngày nay đều thừa nhận pháp quyền là nguyên tắc quản trị nhà nước. Theo Liên hợp quốc, pháp quyền là nguyên tắc quản trị quốc gia.
Nghị viện châu Âu cũng xem pháp quyền là nguyên tắc chung của các quốc gia trong châu lục. Theo đó, nguyên tắc pháp quyền đóng vai trò nền tảng cho định hướng các hoạt động của các quốc gia, ràng buộc quan hệ giữa các nước. Vì thế, pháp quyền được xem là nguyên tắc phổ quát có tính toàn cầu, giữ vai trò như một yếu tố nền tảng trong các quan hệ quốc tế. Khái niệm về NNPQ cũng là khái niệm mới rất khó thống nhất.
Nhưng chúng ta có thể tạm thống nhất với khái niệm và nội hàm cụ thể như sau, NNPQ là hệ thống tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật; đề cao quyền của con người, 13 quyền của công dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật; tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức, kể cả các tổ chức đảng đều phải hoạt động theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các hoạt động của mình. Mọi công dân đều có nghĩa vụ, sống và làm việc, chấp hành hiến pháp và pháp luật,” (Trần Đức Lương, 2007). Hay có thể hiểu NNPQ là nhà nước được xây dựng trên cơ sở chủ quyền nhân dân, có hệ thống pháp luật dân chủ, minh bạch, tiến bộ,. đảm bảo sự thống trị và thượng tôn của pháp luật trong đời sống nhà nước, đời sống xã hội.
Theo quan điểm của GS Nguyễn Duy Quý thì cho rằng NNPQ là nhà nước thừa nhận và tôn trọng tính tối cao của pháp luật; các quyền được phân định rõ rệt để nhằm kiểm soát, kiềm chế lẫn nhau; nhà nước đảm bảo cho công dân sự an toàn pháp lý và được hưởng các quyền tự do cơ bản; thực hiện một cách tận tâm các cam kết quốc tế… (Nguyễn Duy Quý, 2010, trang 150). Bàn về nội hàm khái niệm có rất nhiều quan niệm khác nhau thể hiện sự nhận thức sâu sắc, phong phú, đa chiều về cách tiếp cận và các khía cạnh khác nhau của NNPQ. Những yếu tố trên có thể xem NNPQ như một hình thức tổ chức nhà nước, mà ở đó có khả năng chế ước quyền lực nhà nước, nhưng lại có những nghiên cứu chỉ coi sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy nhà nước là tiêu chí căn bản của NNPQ. Cho dù khái niệm NNPQ là một khái niệm được tiếp cận ở nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau song theo tác giả luận văn quan điểm về NNQP là hình thức, thể chế nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, có tinh thần thượng tôn pháp luật, quyền lực nhà nước biểu hiện tập trung ở hệ thống hiến pháp và pháp luật – là quyền lực công cộng tối cao, được xây dựng trên nền tảng xã hội công dân; là một nhà nước thực thi quyền lực của mình trên cơ sở pháp luật theo một thủ tục pháp lý chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Tóm lại, NNQP là nhà nước đề cao nhân dân, tôn trọng, bảo vệ các quyền, tự do của con người và đảm bảo thực hiện các quyền, đối lập với nhà nước bạo 14 lực, nhà nước độc tài và nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và ngược lại. Tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật. Pháp luật là cơ sở của mọi hình thức tổ chức quyền lực công khai, mọi chủ thể trong xã hội, trong đó có cả những cơ quan nhà nước bất kể ở cương vị nào đều phải tuân theo pháp luật, là công cụ quản lý xã hội, đặc biệt nhà nước phải coi trọng tính nghiêm minh của pháp luật, tính dân chủ phải được đảm bảo coi trọng và công bằng, mọi thiết chế quyền lực nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ và bị kiểm soát bởi pháp luật. Từ những điều trên có thể kết luận rằng, hình thức nhà nước một khái niệm bao trùm có tính khái quát cao mọi hoạt động của Nhà nước thông qua cách thức thành lập và hoạt động của các cơ quan nhà nước, một nhà nước phục vụ nhân dân.
Các hình thức nhà nƣớc pháp quyền NNPQ từ một nhà nước ý tưởng dần dần trở thành một nhà nước hiện thực gắn liền với sự ra đời của nhà nước tư sản. NNPQ được xem là một biểu hiện của trình độ phát triển của dân chủ nên có thể cho rằng NNPQ không phải là một kiểu nhà nước. NNPQ với những giá trị phổ biến của nó có thể thấy rằng NNPQ vẫn có thể được xây dựng ở các quốc gia theo định hướng XHCN, có cách thức tổ chức và vận hành của một chế độ nhà nước và xã hội, xây dựng trong điều kiện chế độ xã hội XHCN. Như vậy, vẫn có sự tồn tại song song hai hình thức NNPQ trong phương diện lý luận và thực tiễn đó là NNPQ tư bản chủ nghĩa và NNPQ XHCN.
Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa Nhà nước tư sản ra đời là kết quả của cuộc cách mạng tư sản chống lại chế độ phong kiến, nó đánh dấu một bước phát triển mạnh mẽ và tiến bộ mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử. Tuy nhiên, nhà nước tư sản vẫn mang trong mình bản chất bốc lột dù cho giai cấp tư sản vẫn ra sức tuyên truyền cho cái gọi là nhà nước phúc lợi chung. NNPQ TBCN được tổ chức dựa nguyên tắc phân quyền, chủ nghĩa đa nguyên chính trị nhằm mục đích giải quyết những vấn đề nội bộ giai cấp và che 15 đậy bản bóc lột của mình trước quần chúng nhân dân lao động. Sự phân chia quyền lực nhà nước thành 3 nhánh quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm kiềm chế, kiểm soát, đối trọng nhau nhưng độc lập với nhau.
Về cơ bản bộ máy NNPQ dân chủ tư sản bao gồm những bộ phận sau: Nghị viện: được xem là cơ quan quyền lực tối cao, có chức năng lập pháp. Hoạt động thường xuyên, có tính chuyên môn hóa cao. Nó có ba chức năng cơ bản như chức năng đại diện, chức năng quyết định và chức năng kiểm soát. Tính đại chúng và tính đặc quyền là đặc trưng cơ bản của nghị viện trong NNPQ TBCN.
Về cơ cấu tổ chức nghị viện trên thế giới được tổ chức theo cơ cấu 2 viện: thượng nghị viện và hạ nghị viện. Quyền lực của nghị viện của các NNPQ trên thế giới hết sức khác nhau.