Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Chương 2: Một số vấn đề lý luận về thể chế chính trị, thể chế chính trị cộng hòa và tư tưởng Hồ Chí Minh về thể chế chính trị dân chủ cộng hòa. 11 z Chương 3: Vai trò của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng thể chế chính trị Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chương 4: Giá trị của thể chế chính trị Việt Nam dân chủ cộng hòa và liên hệ với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
12 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm công trình nghiên cứu về thể chế chính trịcộng hòa 1. Nhóm công trình của tác giả nước ngoài Hầu hết các lý thuyết chính trịhiện đại, trong đó có lý thuyết về thể chế chính trị đều xuất phát từ quan điểm của những nhà triết học, chính trị học thời cổ đại ở phương Tây.Chính trị là vấn đề liên quan đến công việc nhà nước. Các nhà tư tưởng thời cổ đại sớm nghiên cứuvề và đề cập đến những vấn đề cơ bản của chính trị như vấn đề tổ chức nhà nước, các hình thức nhà nước, người đứng đầu nhà nước… Nghiên cứu về thể chế chính trị, thể chế nhà nước không thể không đề cập đến những tác phẩm mang tính chất kinh điển xuất hiện từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại: “Chính trị luận” của Aristotle; “Cộng hòa” của Plato… Thời cổ đại, khi hầu hết các quốc gia trên thế giới đang duy trì mô hình nhà nước quyền lực tập trung trong tay một cá nhân thì Aristotle, Plato đã đề cập một cách tổng quát đến mô hình nhà nước nơi quyền lực thuộc về số đông, được tổ chức và quản lý theo nguyên tắc pháp trị.
Điều này dễ hiểu vì nền cộng hòa dân chủ sơ khai đầu tiên đã được hình thành ở Hy Lạp, La Mã cổ đại. Các nhà tư tưởng cổ đại sớm có cái nhìn tích cực về nhà nước cộng hòa. Tuy nhiên, nó cũng có điểm hạn chế. Các nhà tư tưởng thời này cho rằng dù ở loại mô hình nào thì vấn đề quan trọng là muốn duy trì quyền lực của mình, muốn tạo ra xã hội tốt đẹp những nhà lãnh đạo cũng phải quan tâm đến đời sống của dân chúng.
Trên nền tảng những quan điểm của các nhà triết học, chính trị học thời cổ đại và những mô hình nhà nước trên thực tế, đã dần hình thành nên lý thuyết chính trị hiện đại. Một trong những người được xem là đi đầu cho sự xuất hiện của nền khoa học chính trị hiện đại là Niccolò Machiavelli (1469-1527). Tác phẩm làm nên tên tuổi của Machiavelli là “Quân Vương” (The Prince) đã đưa ra những lý thuyết 13 z về chủ nghĩa hiện thực chính trị thông qua việc phân tích khá chi tiết nhà nước quân chủ ở nước Ý sau sự sụp đổ của đế chế La Mã. Machiavelli còn có tác phẩm “Discourses on Livy” bàn về chủ nghĩa cộng hòa,.
Ông thể hiện sự nhiệt thành của mình đối với thể chế cộng hòa. Thông qua ghi chép của Livy về nền cộng hòa La Mã, Machiavelli đã phân tích chi tiết chính phủ cộng hòa. Đó là nhà nước có Thượng viện, có các thiết chế chính trị chú trọng đến vấn đề phân quyền. Chính phủ cộng hòa coi trọng luật pháp.
Machiavelli ca ngợi nền cộng hòa này với việc tạo ra sự cân bằng quyền lực. Quyền lực thuộc về những công dân trong nước (những người tự do và có tài sản). Machiavelli là người phá vỡ quan điểm chính trị truyền thống, cho rằng sự cai trị, sự phát triển của thành bang đòi hỏi vấn đề đạo đức, đức hạnh, mà phải dựa vào luật pháp, vào tài năng của người lãnh đạo… Machiavelli đã đưa ra nhiều quan điểm về vấn đề quyền lực, về vai trò của pháp luật trong việc cai trị đất nước. Nhiều người khẳng định ông đóng góp quan trọng vào việc hình thành những lý luận cơ bản về một nền chính trị hiện đại.
Ông là người tiên phong trong việc thiết lập nên nền dân chủ của đời sống chính trị -xã hội trên thế giới. Sau đó là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các học thuyết và tư tưởng tư sản về chính trị với thuyết tam quyền phân lập, khế ước xã hội. Lý thuyết cho thấy thể chế chính trị cộng hòa có nhiều ưu điểm so với thể chế chính trị quân chủ. Nó mang giá trị dân chủ, tạo ra nền dân chủ rộng rãi, cho phép số đông nhân dân tham gia quản lý nhà nước.
Càng về sau thể chế chính trị cộng hòa càng được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn. Cho đến hiện nay, đây vẫn là mô hình thể chế chính trị phổ biến nhất trên thế giới. Thể chế chính trị liên quan chặt chẽ đến chế độ chính trị và bản chất của nhà nước nên thể chế chính trị cộng hòa hiện đại có nhiều biến thể khác nhau. Trong giới nghiên cứu hiện nay có nhiều công trình bàn về thể chế chính trị hiện đại với biểu hiện cụ thể ở các quốc gia khác nhau.
14 z Hai tác giả John T.Ishiyama và Marijke Breuning đã biên tập nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong cuốn sách được xuất bản năm 2010: “21st century political science: A Reference Handbook”. Tác phẩm này gồm 2 tập, cung cấp lượng kiến thức vô cùng phong phú và hữu ích cho những người muốn tìm hiểu, nghiên cứu về nền chính trị hiện đại. Cuốn sách gồm sáu phần. Phần II đề cập đến chủ đề chính trị so sánh có nhiều bài viết về hệ thống chính trị, về chủ nghĩa toàn trị và chủ nghĩa chuyên chế, về so sánh chế độ tổng thống với chế độ đại nghị, về mô hình dân chủ…Liên quan đến tên gọi “cộng hòa”, bài viết “Models of Democracy” (Các loại hình dân chủ), tác giả John T.
Ishiyama, Tatyana Kelman và Anna Pechenina có sự giải thích liên quan đến nhà nước cộng hòa và nhà nước dân chủ. Các tác giả đi từ hình thức nhà nước dân chủ đầu tiên trên thế giới diễn giải đến sự hình thành của hình thức nhà nước cộng hòa, mà hiện nay trên thế giới sử dụng một cách phổ biến. Từ dân chủ “Democracy” được cấu thành bởi từ “Demos” (Nhân dân) và “kratos” (Quyền lực). Dân chủ là mô hình chính phủ trong đó người dân làm chủ.
Mô hình này đã được tổ chức ở Athen và là một loại hình của hệ thống phân loại: loại chế độ quyền lực thuộc về một người, thuộc về một nhóm người và thuộc về nhiều người. Có dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Đầu thế kỷ thứ V trước công nguyên, trên cơ sở nhà nước dân chủ của người Hy Lạp, người La Mã đã phát triển thành một mô hình nhà nước mới được gọi là cộng hòa (hay còn gọi là dân chủ đại diện). Tác giả cho rằng cộng hòa là một loại hình của dân chủ, có nghĩa là dân chủ đại diện.
Sự khác nhau giữa mô hình dân chủ Hy Lạp và La Mã nằm ở việc bầu ra những người đại diện. Nền dân chủ La Mã, những quyết định mang tính nhà nước được tạo ra bởi một nhóm những người đại diện được bầu. Phần chính của bài viết là căn cứ vào tính dân chủ được tạo dựng, tác giả chia thành nhiều loại hình nhà nước dân chủ đương đại khác nhau dựa vào sự phân tích những trường hợp cụ thể trên thế giới. 15 z Các nhà nghiên cứu phương Tây hiện đại khi nghiên cứu về thể chế cộng hòa (thể chế dân chủ đại diện) thường chỉ ra hai loại cơ bản: cộng hòa tổng thống và cộng hòa đại nghị.
Bài viết “Presidentialism versus Parliamentalism” (So sánh chế độ tổng thống với chế độ đại nghị) của tác giả Joseph W. Robbinsđã phân tích hai mô hình chính phủ: tổng thống và đại nghị. Mỗi mô hình có những ưu và nhược điểm riêng. Tác giả cũng cho thấy trước đây có quan điểm cho rằng mô hình tổng thống không tốt cho dân chủ.
Nhưng những ví dụ thực tiễn đã phản bác lại quan điểm này.Robbins cho rằng nhiều nền dân chủ hiện đại hơn đã chọn lựa mô hình chính phủ kết hợp giữa hai loại tổng thống và đai nghị. Một vài nhà nước trước đây như Croatia, Ba Lan hay Ukraina đã chọn mô hình bán tổng thống, một phần giảm thiểu những hạn chế của cả mô hình chính phủ tổng thống hay đại nghị. Tác giả Nguyễn Huy Vũ (Oslo, Na Uy) trong bài viết “So sánh các mô hình dân chủ dựa trên cơ chế đồng thuận và theo đa số” trên tạp chí Thời đại mới (Tạp chí nghiên cứu và thảo luận) số 33 (tháng 7 năm 2015)lại cho rằng nếu chỉ phân loại thành mô hình tổng thống và đại nghị là chưa đầy đủ. Tác giả đã đề cập đến hai mô hình thể chế dân chủ cơ bản.
Đó là mô hình theo đa số (majoritarian model) và mô hình đồng thuận (consensus model). Mô hình theo đa số hướng tới việc thiết lập một chính quyền trung ương rất mạnh, đại diện cho đa số. Mô hình đồng thuận hướng tới sự phân chia quyền lực và chấp nhận cho phép sự hiện diện của các nhóm thiểu số trong chính quyền. Từ hai mô hình cơ bản, các thể chế chính trị dân chủ khác nhau được hình thành.
Tác giả đã phân tích đặc điểm của từng mô hình dựa trên ví dụ cụ thể của hệ thống chính trị các quốc gia phương Tây. Mỗi quốc gia lựa chọn cho mình một mô hình thể chế chính trị dân chủ phù hợp. Không có mô hình thể chế dân chủ bất biến. Nhưng thể chế dân chủ muốn trở thành tối ưu ở các quốc gia phải đảm bảo 5 đặc tính sau: - Ngăn ngừa được sự hình thành của một chế độ độc tài mới.
- Ngăn ngừa được đảo chính 16 z - Bảo đảm chính quyền ổn định và làm được việc - Ngăn ngừa được sự thực thi các chính sách tồi - Kéo dài sự cầm quyền của một chính phủ thành công. Năm 2010 xuất hiện tác phẩm “Tại sao các quốc gia thất bại” của hai tác giả Daron Acemoglu và James Robinson. Cuốn sách đã tạo ra “cơn sốt” về vấn đề thể chế. Nhóm tác giả đưa ra rất nhiều ví dụ cụ thể về sự phát triển hay kém phát triển của các quốc gia.
Tác giả lập luận sự thịnh vượng hay nghèo đói của các nước trên thế giới không phải do điều kiện tự nhiên, không phải do yếu tố văn hóa, không phải do sự kém sáng suốt của những người lãnh đạo… mà tất cả do thể chế quyết định. Các tác giả chia thể chế thành hai loại: thể chế dung hợp và thể chế chiếm đoạt.