CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC VÌ DÂN THỜI KỲ KHAI SÁNG 1. ĐIÊU KIỆN, TIỀN ĐÈ CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC Vi DAN CUA THOI KY KHAI SANG 1. Khái niệm nhà nước vì dân Cho đến nay, xuất phát từ mục đích, góc độ tiếp cận của mỗi ngành khoa học như chính trị học, luật học, lý luận nhà nước và pháp luật, triết học, xã hội học,. nên đã có sự khác biệt trong quan điểm về nhà nước, với các khái niệm như nhả nước pháp trị, nhà nước pháp quyền, nhà nước phúc lợi, nhà nước tái phân phối,.
Tuy nhiên, điểm chung của các quan niệm này là đều hướng đến việc xây dựng một nhà nước đặt lợi ích của nhân dân lên vị tr cao nhất, phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Thực tế lịch sử cho thấy, trong xã hội cö đối kháng giai cấp, sự thống trị của giai cắp này đối với giai cắp khác được thé hiện dưới ba hình thức: Kinh tế, chính trị và tư tưởng. Trong ba quyền lực đó, quyền lực kinh tế đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở đảm bảo cho sự thống trị của giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Quyền lực kinh tế tạo ra khả năng cho chủ sở hữu tư.
liệu sản xuất khả năng bắt những người khác phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế. Tuy nhiên, bản thân quyền lực kinh tế lại không đủ khả năng duy trì quan hệ bóc lột, mà phải thông qua quyên lực chính trị, nghĩa là phải thông qua bạo lực có tô chức. Thông qua nhà nước, giai cấp thông trị kinh tế trở thành chủ t tủa quyển lực chính trị, tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị, hợp thức hóa ý chí của giai cấp mình thành ý chí của nhà nước, buộc giai cấp khác phái tuân theo trật tự phủ hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. duy trì địa vị của mình, giai cấp thống trị tao dựng và sử dụng các công cụ, phương tiện như quân đội, cảnh sát, nhà tù,.
Bộ máy này lớn hay nhỏ phụ thuộc vào 7 mức độ phản kháng của đối tượng bị trấn áp. Tuy nhiên, giai cấp thống trị không chỉ sử dụng bạo lực trấn áp mà còn thông qua sự tác động về tư tưởng. Thông qua nhà nước, giai cấp thống trị xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội, buộc các giai cấp, tầng lớp khác phải lệ thuộc vào mình về mặt tư tưởng. Như vậy, xét về mặt nội hảm, khái niệm nhà nước dùng để chỉ một thiết chế quyền lực do lực lượng nắm giữ tư liệu sản xuất chú yếu của xã hội tạo ra, lực lượng này có thể là thiểu số (trong nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản) hay đa số (nhà nước xã hội chủ nghĩa) nhằm thể hiện và thực hiện ý chí cúa giai cấp cằm quyền, báo vệ, duy trì, cùng cổ địa vị của giai cấp thống trị.
Bên cạnh đó, trong giới hạn xác định, nhà nước cũng phải thực hiện một số hoạt động để thoả mãn nhu cầu chung của công đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước đó. Theo đó, nhà nước được hiểu là thiết chế quyền lực do giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội tạo ra nhằm bảo vệ, duy trì địa vị của mình, đồng thời tổ chức, quản lý và thỏa mãn những nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước đó. “Trong điều kiện nhân dân đã trở thành chủ thể thực sự của xã hội, là chủ sở hữu của tư liệu sản xuất chủ yếu, lúc này nha nude trở thành công cụ để nhân dân xây dựng và phát triển xã hội, phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Điểu này cũng có nghĩa, nhà nước vì dân là thiết chế quyển lực của nhân dân nhằm bảo về, duy trì địa vị của nhân dân, tổ chức, quản lý và thỏa mãn những nhu cầu của nhân dân nằm dưới sự quản lÿ của nhà nước đỗ.
Điều kiện kinh tế - xã hội dẫn đến sự hình thành tư tưởng nhà nước vì dân của Thời kỳ Khai sáng, Phong trào Khai sáng hay còn gọi là thời kỳ Khai sáng (tiếng Anh: Age of Enlightenment; tiếng Pháp: Siècle des Lumiẻres) xuất hiện ở Tây Âu (Anh, Pháp, Đức) vào những năm cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVII, cùng với 18 những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học đã tắn công vào hệ thống tư tưởng cũng như những thiết chế của giáo hội và nhà nước. Trong luận văn nỗi tiếng “Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì Kant định nghĩa: Khai sáng là sự thoát ly của con người ra khỏi tinh trạng vị thành niên do chính con người gây ra. Vị thành niên là sự bất lực không thẻ vận dụng trí tuệ của mình một cách độc lập mà không cần sự chỉ đạo của người khác. Tình trạng vị thành niên này.
là do tự mình gây ra, một khi nguyên nhân của nó không phải do sự thiếu sót trí tuệ, mà do sự thiếu sót tính cương quyết và lòng can đảm, dám tự minh dùng trí tuệ phục vụ cho mình mả không cần đến sự chỉ đạo của người khác. Sapere aude! Hãy có can đảm tự sử dụng trí tuệ của chính mình! Các nhà Khai sáng đã đi vào luận giải các vấn đề như: Bản chất của con người; về lý trí n bộ và tự do; sự vươn tới cái thiện, cái đẹp; về giáo dục, từ đó, mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển của tư tưởng nhân quyền, quyền công dân, các học thuyết về thể chế chính trị và quyền tự do dân chủ, triết lý về giáo dục,. Sự ảnh hưởng của nó đã vượt qua biên giới của châu Âu, lan tỏa cho đến ngày nay. Đại diện tiêu biểu cho phong trảo Khai sáng có thể kế đến như: John Locke, Charles de Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques Rousseau, Immanuel Kant.
Khai sáng là một kiểu thế giới quan và triết học đặc biệt, đặc trưng cho đời sống văn hóa Châu Âu và Mỹ ở thế kỷ XVIII. Điểm khác biệt của nó là định hưởng chống phong kiến, mong muốn xây dựng chương trình cải tạo xã hội và hình thành lý tưởng mới về con người. Trung tâm xây dựng thể giới quan như vậy là Bách Khoa thư do Didrrot xuất bản từ năm 1780. Các nhà tư tưởng tiên tiền hợp nhất xung quanh nó mong muốn thực hiện kế hoạch “đại phục hồi khoa học” do F.Bacon phát họa ra như kế hoạch gắn liền tiến bộ xã hội với tiến bộ khoa học.
Những yêu cầu về bình quyền chính trị được thừa nhận là bắt nguồn từ sự bình đẳng bẩm sinh của con người. Xuất phát điểm 19 đối với tất cả các nhà Khai sáng là khái niệm “tự nhiên”, nó được lý giải theo các cách khác nhau: Từ việc đồng nhất tự nhiên với thực thể vật chất (Holbach) cho ¡ việc quan nỏ như đối tượng thụ cảm thâm mỹ (Rousseau). Khai niệm *giáodi lóng vai trò quan trọng trong hệ tư tưởng khai sáng. Giáo dục được gắn liền với định hướng vào lương tri của mỗi cá nhân.
Các nhà Khai sáng cỗ gắng phổ biến rộng rãi các lý tưởng của mình thông qua các tác phẩm văn học, triết học, sử học. Vào cuối thế kỷ XVII ~ nửa đầu thé ky XVILL, loài người đã bắt đầu bước vào một kỷ nguyên mới, được đánh dấu bởi bước nhảy vọt mạnh mẽ về văn mình. Sau hai thể kỷ, các hình thức tồn tại kinh tế, chính trị và văn hóa chung của loài người da thay đổi một cách căn bản. Trong lĩnh vực kinh tế, là giai đoạn sản xuất nhà máy gẵn liễn với hệ thống phân công lao động công nghiệp mới, với việc bắt đầu sử dụng máy.
móc Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật và tăng năng suất lao động, đã biến nhiều quốc gia trở thành các cường quốc kinh tế. Tuy nhiên, nó cũng gây ra sự phân hóa xã hội sâu sắc, kể cả sự bóc lột nhân công thường thấy, chủ nghĩa thực dân ra đời cùng sự xâm. chiếm thuộc địa và buôn bán nô lệ. Bên cạnh việc bóc lột nhân công trong, nước, cdc nha tu ban cũng tăng cường bóc lột kinh tế các nước thuộc địa Chinh vì đặc điểm kinh tế cơ bản lä quyền tư hữu đối với tư liệu sản xuất và kinh tế thị trường tự do kinh doanh nên đã kéo theo các đặc điểm khác về mặt luật pháp, triết học và tâm lý của xã hội tư bản chú nghĩa: .Một là, tỉnh năng động và tự phát của thị trưởng: Mọi giá trị kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội đều có thể và phải được lượng giá bằng tiền tệ trong các mối quan hệ xã hội và dựa trên đó để đánh giá giá trị đối với xã hội, do vậy, sự lượng giá các giá trị nay hoản toàn mang tính thị trường và thay đồi rất nhanh theo thời gian, xã hội chuyển biến như một thị trường các giả trị lên giá và xuống giá rất nhanh.
A⁄đr mặt, nó khuyến khich các chủ thể sáng tạo nhằm mục tiêu thu lợi cho minh, øấ: &¿ác, nó cũng gây ra sự hỗn loạn của nền kinh tế (đầu cơ trục lợi, khủng hoảng thừa, đầu tư mắt cân đối, cạnh tranh tư bản dẫn tới độc quyẻn. Sự hỗn loạn nảy đã tạo ra các cuộc khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ trong suốt quá trình lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Hai là, quyền cá nhân: Đối với xã hội tư bản chủ nghĩa cá nhán là chủ thể trung tâm của xã hội: là người sáng tạo ra của cải vật chất va tỉnh thần, là lực lượng lao động chính của xã hội. Cá nhân có trách nhiệm hoản toàn trước.
xã hội và có các quyền bat khả xâm phạm. Quyền lợi của cá nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa được khẳng định nếu nó không phủ định quyền của cá nhân khác hoặc xâm phạm đến trật tự của nền sản xuất tư bản chú nghĩa, quyền lợi của giai cấp tư sản (chủ thuê lao động). Trong lĩnh vực chính trị - xã hội đã hình thành quan niệm mới về các quyền và các quyền tự do của con người; về nhà nước pháp quyền. Trong giai đoạn này đã bắt đầu xuất hiện những cuộc đấu tranh nhằm thực hiện tư tưởng, về tự do và pháp quyển vào cuộc sống.
Trong lĩnh vực văn hóa, trì thức khoa học đã tiếp tục được đặt lên hàng đầu và để cao. Những phát minh vĩ đại bắt đâu được thực hiện trong toán hoc va khoa học tự nhiên. Đứng trước tắt cả những biến đổi ấy, triết học đi tiên phong so với các ngành khoa học.