Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Vanhseng Keobounphanh, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Lê Minh Tâm. Công trình được bảo vệ năm 2016 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, mã số 62 38 01 01.
Về tính cấp thiết, tác giả chỉ ra rằng trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước Lào và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đặt trọng tâm vào việc cải cách bộ máy nhà nước và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền là đòi hỏi khách quan nhằm quản lý xã hội hiệu quả, tạo tiền đề phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và tiếp thu tinh hoa thế giới. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 1991), Hiến pháp đầu tiên của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời, thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tạo nền tảng pháp lý cơ bản để xây dựng nhà nước và nền pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội lần thứ VIII (năm 2006), Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát huy nhà nước dân chủ nhân dân, từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả nhận định xây dựng nhà nước pháp quyền là vấn đề mới mẻ, phức tạp, chịu sự chi phối của các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa và tâm lý dân tộc Lào. Dù tại Lào đã có một số bài viết và đề tài nghiên cứu liên quan, song tính đến thời điểm tác giả thực hiện công trình, chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân ở cấp độ một luận án tiến sĩ luật học.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích các giá trị có tính phổ biến cùng các yếu tố hợp lý của nhà nước pháp quyền để vận dụng vào thực tiễn Lào, từ đó xây dựng các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân. Để đạt mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở một số nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm xác định các giá trị có tính phổ biến, yếu tố hợp lý và kinh nghiệm có thể tiếp thu, vận dụng vào Lào.
- Làm rõ một số tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Kay-són Phôm-vi-hán và của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về xây dựng nhà nước pháp quyền; phân tích đặc điểm, điều kiện và các yếu tố đặc thù tác động đến tiến trình này, từ đó xác định bản chất, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân.
- Phân tích khái quát quá trình hình thành, phát triển của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền; khẳng định kết quả, thành tựu, chỉ ra hạn chế, khó khăn và những yêu cầu đặt ra.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền; các giá trị phổ biến và kinh nghiệm quốc tế (nhất là của Việt Nam); tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Kay-són Phôm-vi-hán; các chủ trương, đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; chính sách, pháp luật của Nhà nước Lào và các kết quả nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn liên quan.
Phạm vi nghiên cứu được xác định trên hai bình diện: về mặt lý luận, luận án tập trung làm rõ lịch sử tư tưởng, khái niệm, bản chất, đặc trưng, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước pháp quyền và các yếu tố đặc thù tác động tại Lào; về mặt thực tiễn, luận án giới hạn việc khảo sát tiến trình hình thành, phát triển của Nhà nước Lào qua các thời kỳ lịch sử, đánh giá thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền từ khi ban hành Hiến pháp năm 1991 đến giai đoạn công bố luận án, tập trung vào những hạn chế, bất cập để đề xuất quan điểm và giải pháp phù hợp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành hai nhóm nguồn chính: các công trình nghiên cứu ở nước ngoài (bao gồm phương Tây, phương Đông cổ đại và Việt Nam) và các công trình nghiên cứu tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Ở phạm vi quốc tế, tác giả điểm lại các nền tảng lý thuyết kinh điển:
- Triết học phương Tây và học thuyết pháp quyền: Tác phẩm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen ("Góp phần phê phán triết học pháp quyền", "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", "Phê phán cương lĩnh Ghôta") làm rõ mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước, khẳng định chế độ dân chủ xuất phát từ con người; công trình của Albert Venn Dicey (1885, "Introduction to the study of the law of the Constitution") phân tích nguyên tắc ngự trị tuyệt đối của pháp luật, bình đẳng trước pháp luật; tuyển tập do Josef Thesing biên tập (2002) về giá trị chế độ pháp trị; nghiên cứu của David Kairys (2003); học thuyết phân chia quyền lực của Montesquieu (2004, "Bàn về tinh thần pháp luật"); học thuyết khế ước xã hội của Jean-Jacques Rousseau (2006, "Bàn về khế ước xã hội"); quan điểm của Immanuel Kant về pháp luật đạo đức và quyền tự do; quan điểm của G.W.F. Hegel về nhà nước và tự do; tư tưởng của Robert von Mohl và Welcker về tính tối cao của luật; nghiên cứu của N. Davletshina (2008), Nancy L. Rosenblum, John Stuart Mill, David Chandler, Jiunn-Rong Yeh và Wen-Chen Chang.
- Tư tưởng phương Đông cổ đại: Các nhà tư tưởng pháp gia Trung Quốc như Quản Trọng ("pháp bất vị thân"), Thương Ưởng ("biến pháp canh tân"), Hàn Phi ("thời biến thì pháp phải biến", dùng pháp luật làm công cụ tối cao quản lý xã hội).
- Các công trình tại Việt Nam: Tác giả khảo sát các nghiên cứu về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Tạ Xuân Đại (2004), Trần Ngọc Đường và Ngô Đức Mạnh (2008), Trần Hậu Thành (2005), Lê Văn Quang và Văn Đức Thành (2006), Đào Trí Úc và Phạm Hữu Nghị (2009), Trần Ngọc Đường (2011), Nguyễn Văn Yểu và Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Trọng Thó, Trương Quốc Chính. Cùng với đó là các luận án, luận văn của Trần Thị Ánh Tuyết (2000), Đào Ngọc Tuấn (2002), Nguyễn Thanh Bình (2004). Về các chuyên đề liên quan, luận án tham khảo công trình của Trần Ngọc Đường và Chu Văn Thành (1994), Đinh Văn Mậu (2003), Lê Minh Tâm (2003), Hoàng Thế Liên (2006), Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo và Bùi Đình Bôn (2008), Trịnh Thị Xuyến (2009), Lê Minh Tâm và Nguyễn Minh Đoan (2010), Nguyễn Minh Đoan (2011), Ngô Hải Phan (2004), Trần Thanh Hương (2006), Trương Thị Hồng Hà (2007), Võ Khánh Vinh (2003), Tường Duy Kiên (2005).
Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, các công trình được điểm lại gồm:
- Các đề tài khoa học: Đề tài cấp bộ của Bộ Tư pháp Lào (2009) về "Chiến lược phát triển Nhà nước pháp quyền của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đến năm 2020"; Đề tài hợp tác nghiên cứu Việt Nam - Lào (2014) về "Xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào".
- Các luận văn, bài báo chuyên khảo: Khăm-chăn Chem-sa-món (2006) về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; Phu-thon Kẹo-đuồng-đỳ (2010) về xây dựng nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa; Sính-tăn Xay-lư-xông (2010) và Un-kẹo Bút-thị-lát (2011) trên Tạp chí Đại biểu nhân dân Quốc hội Lào bàn về các nguyên tắc, tiêu chí nhà nước pháp quyền.
- Các công trình về tổ chức bộ máy hành chính và cải cách chính quyền: Sách của Bùn-mỳ Sý-chăn và Chăm-Pa-Thoong Chăn-tha-pha-súc (2007), Vi-lay Phăn-đa-nu-vông (2010), Thoong-lay Sý-su-thăm (2011); luận án của On-kẹo Phôm-ma-kon (2004) về sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy hành chính giai đoạn 1975-1995; Pa-tha-na Súc-a-lun (2007) về đổi mới bộ máy hành chính nhà nước; Khăm-khoong Phôm-ma-păn-nha (2010) về tổ chức bộ máy chính quyền cấp tỉnh; Phô-xay Xay-nhà-són (2011) về cải cách bộ máy hành chính cấp huyện.
| Nhóm công trình |
Đại diện tiêu biểu |
Trọng tâm nội dung đã giải quyết |
Khoảng trống luận án tiếp tục xử lý |
| Lý thuyết quốc tế và kinh nghiệm Việt Nam |
A. V. Dicey, Montesquieu, J.J. Rousseau, Đào Trí Úc, Trần Ngọc Đường, Lê Minh Tâm |
Phân quyền, pháp chế, kiểm soát quyền lực, mô hình nhà nước pháp quyền XHCN tại Việt Nam |
Chưa luận giải việc tiếp thu và điều chỉnh vào thể chế chính trị - xã hội đặc thù của Lào |
| Nghiên cứu chung tại Lào |
Bộ Tư pháp Lào (2009), Đề tài hợp tác Việt - Lào (2014), Phu-thon Kẹo-đuồng-đỳ (2010) |
Định hướng chiến lược ngành tư pháp đến 2020; so sánh bối cảnh kinh tế thị trường hai nước |
Chưa xây dựng thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh về bản chất, đặc trưng, chức năng của NNPQ Lào |
| Cải cách bộ máy và hành chính tại Lào |
Pa-tha-na Súc-a-lun (2007), Khăm-khoong Phôm-ma-păn-nha (2010), Phô-xay Xay-nhà-són (2011) |
Tổ chức bộ máy hành chính chung hoặc phân cấp cục bộ ở cấp tỉnh, cấp huyện |
Tiếp cận cơ học về hành chính, chưa đặt trong chỉnh thể toàn diện của NNPQ của dân, do dân, vì dân |
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là tổng hợp, hệ thống hóa và xây dựng một công trình nghiên cứu chuyên sâu, bao quát toàn diện từ cơ sở lý luận, tư tưởng lãnh đạo của Chủ tịch Kay-són Phôm-vi-hán, lịch sử phát triển thể chế đến việc đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tư tưởng Kay-són Phôm-vi-hán và các chủ trương, đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào qua các kỳ Đại hội. Khung phân tích khái niệm của luận án xác định nhà nước pháp quyền là một mô hình tổ chức nhà nước mà ở đó hiến pháp và luật giữ vị trí tối thượng; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; dân chủ, quyền con người, quyền công dân được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật; bộ máy nhà nước được phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực; đồng thời nhà nước có mối quan hệ gắn bó mật thiết với xã hội công dân.
Luận án là một nghiên cứu định tính thuần túy thuộc khoa học pháp lý, không sử dụng các mô hình kinh tế lượng hay điều tra định lượng bằng phần mềm thống kê. Phương pháp luận chủ đạo là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp lôgích - lịch sử: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 1, Chương 2 và Chương 3 để khảo cứu sự phát triển của các tư tưởng pháp quyền từ thời cổ đại đến hiện đại, cũng như quá trình hình thành, phát triển của Nhà nước Lào qua từng giai đoạn lịch sử.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Sử dụng xuyên suốt cả 4 chương nhằm mổ xẻ các học thuyết pháp lý, đối chiếu mô hình nhà nước pháp quyền tư sản với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, so sánh thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền giữa Việt Nam và Lào.
- Phương pháp phân tích tài liệu, thực tiễn và xã hội học: Ứng dụng tại Chương 1, Chương 2 và Chương 3 nhằm phân tích hệ thống văn bản pháp luật, văn kiện Đại hội Đảng, số liệu thống kê tổ chức bộ máy và đánh giá thực tế thi hành pháp luật tại Lào.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, kết hợp lý luận với thực tiễn: Triển khai ở Chương 2, Chương 3 và Chương 4 để xem xét nhà nước pháp quyền như một chỉnh thể hệ thống gồm nhiều yếu tố cấu thành (lập pháp, hành pháp, tư pháp, mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân) gắn liền với bối cảnh kinh tế - chính trị của Lào. Ngoài ra, tác giả kết hợp linh hoạt phương pháp của luật học với triết học và chính trị học.
Nguồn tư liệu của luận án bao gồm các văn kiện Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Hiến pháp năm 1991 (và các bản sửa đổi, bổ sung), các đạo luật hiện hành của Lào; các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; các báo cáo tổng kết của cơ quan nhà nước, đề tài nghiên cứu cấp bộ của Bộ Tư pháp Lào cùng các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Cấu trúc nội dung của luận án bao gồm phần Mở đầu, 4 Chương với 13 tiết, phần Kết luận, Danh mục công trình của tác giả và Danh mục tài liệu tham khảo.
| Chương |
Tên chương trong văn bản |
Số tiết |
Trọng tâm nội dung |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án |
3 tiết |
Đánh giá tổng quan nghiên cứu nước ngoài, nghiên cứu tại Lào và xác định vấn đề cần tiếp tục giải quyết |
| Chương 2 |
Cơ sở lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân |
6 tiết |
Khái quát lịch sử, lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Kay-són Phôm-vi-hán, đặc trưng, chức năng và kinh nghiệm Việt Nam |
| Chương 3 |
Quá trình hình thành, phát triển của Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân |
2 tiết |
Lịch sử hình thành nhà nước qua các thời kỳ, thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền, thành tựu và hạn chế |
| Chương 4 |
Những quan điểm và giải pháp cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân trong giai đoạn hiện nay |
2 tiết |
Hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền tại Lào |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 gồm 3 tiết (Tiết 1.1: Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài; Tiết 1.2: Tình hình nghiên cứu ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; Tiết 1.3: Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án).
Tại tiết 1.1, tác giả phân tích sâu các công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền trên thế giới, từ các học thuyết kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, A. V. Dicey, Montesquieu, Rousseau, Kant, Hegel đến các học giả hiện đại phương Tây và hệ thống nghiên cứu phong phú của các nhà khoa học pháp lý Việt Nam (như công trình của Đào Trí Úc, Trần Ngọc Đường, Lê Minh Tâm). Tiết 1.2 phân tích các nghiên cứu trong nước Lào, chỉ ra rằng các đề tài của Bộ Tư pháp Lào (2009) hay các luận án của On-kẹo Phôm-ma-kon, Pa-tha-na Súc-a-lun, Khăm-khoong Phôm-ma-păn-nha, Phô-xay Xay-nhà-són chủ yếu tập trung vào cải cách hành chính cục bộ hoặc phương thức lãnh đạo của Đảng. Tiết 1.3 tổng hợp các khoảng trống khoa học, xác định các nhiệm vụ luận án phải giải quyết: làm sáng tỏ cơ sở lý luận, hệ thống hóa tư tưởng Kay-són Phôm-vi-hán, đánh giá toàn diện thực trạng và xây dựng hệ thống giải pháp tổng thể.
Chương 2: Cơ sở lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân
Chương 2 gồm 6 tiết, cấu thành nền tảng lý thuyết chủ đạo của luận án.
- Tiết 2.1 trình bày lịch sử hình thành, phát triển của tư tưởng nhà nước pháp quyền từ thời kỳ cổ đại phương Tây (Hy Lạp, La Mã), tư tưởng pháp trị phương Đông (Trung Quốc cổ đại) qua thời kỳ cận đại (với các thuyết phân quyền, khế ước xã hội) đến thời kỳ hiện đại. Tác giả phân tích các định nghĩa khác nhau trên thế giới và tại Lào, qua đó khái quát 6 đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền:
- Hiến pháp và luật có vị trí tối thượng trong đời sống nhà nước và xã hội;
- Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước;
- Quyền con người và quyền công dân được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật;
- Dân chủ được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật;
- Bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực (phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp);
- Nhà nước pháp quyền có mối quan hệ mật thiết với xã hội công dân.
- Tiết 2.2 làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước vô sản, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền.
- Tiết 2.3 phân tích có hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Kay-són Phôm-vi-hán về xây dựng nhà nước kiểu mới ở Lào: đề cao quyền làm chủ của nhân dân lao động, coi pháp luật là công cụ quản lý xã hội, tăng cường pháp chế dân chủ nhân dân và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.
- Tiết 2.4 và 2.5 luận giải bản chất dân chủ nhân dân, các đặc trưng đặc thù, cùng hệ thống chức năng (chức năng kinh tế, xã hội, bảo vệ an ninh trật tự, đối ngoại) và nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước pháp quyền Lào.
- Tiết 2.6 tổng kết kinh nghiệm của Việt Nam trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (về hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và phương thức lãnh đạo của Đảng) nhằm rút ra các bài học tham khảo phù hợp với điều kiện thực tế của Lào.
Chương 3: Quá trình hình thành, phát triển của Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân
Chương 3 gồm 2 tiết, kết hợp phương pháp lịch sử và phân tích thực tiễn.
- Tiết 3.1 khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Nhà nước Lào qua các chặng đường: từ thời kỳ đấu tranh cách mạng, sự ra đời của Chính phủ Lào Ít-xa-lạ (1945), các giai đoạn Chính phủ Liên hiệp, đến mốc lịch sử thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày 02/12/1975; tiếp đó là công cuộc đổi mới từ năm 1986 và sự ra đời của Hiến pháp năm 1991.
- Tiết 3.2 phân tích thực trạng quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại Lào từ năm 1991 đến thời điểm nghiên cứu. Tác giả đánh giá kết quả đạt được trong việc hoàn thiện hệ thống luật pháp (ban hành hàng loạt bộ luật và luật điều chỉnh kinh tế, xã hội, tổ chức bộ máy), kiện toàn tổ chức Quốc hội, Chính phủ, hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Đồng thời, tác giả chỉ ra các hạn chế, khó khăn: hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, hiệu lực thi hành chưa cao; cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực còn lúng túng; năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức còn bất cập so với yêu cầu; ý thức chấp hành pháp luật trong một bộ phận dân cư còn hạn chế.
Chương 4: Những quan điểm và giải pháp cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân trong giai đoạn hiện nay
Chương 4 gồm 2 tiết, đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp mang tính hành động.
- Tiết 4.1 xác định các quan điểm chỉ đạo có tính nguyên tắc: kiên định sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đối với nhà nước; giữ vững bản chất của dân, do dân và vì dân; kế thừa truyền thống dân tộc kết hợp tiếp thu có chọn lọc các giá trị phổ biến của nhân loại; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật; xây dựng nhà nước pháp quyền gắn liền với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tiết 4.2 đề xuất hệ thống các giải pháp cơ bản:
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật Lào đồng bộ, khả thi, minh bạch;
- Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội nhằm nâng cao chất lượng lập pháp và giám sát tối cao;
- Cải cách bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ và chính quyền địa phương), thực hiện hiệu quả chủ trương phân cấp quản lý: xây dựng tỉnh thành đơn vị chiến lược, xây dựng huyện thành đơn vị mạnh toàn diện, xây dựng bản làng thành đơn vị phát triển;
- Đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao tính độc lập của Tòa án nhân dân trong xét xử và vị trí của Viện kiểm sát nhân dân;
- Nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật;
- Tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 4 đóng góp mới chủ yếu về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
- Nghiên cứu, xác định những giá trị lý luận có tính phổ biến về nhà nước pháp quyền (vị trí tối thượng của pháp luật, chủ quyền nhân dân, bảo vệ quyền con người, phân công kiểm soát quyền lực) có thể tiếp thu và vận dụng vào tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
- Góp phần làm rõ quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Lào về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, đặc biệt là hệ thống hóa tư tưởng của Chủ tịch Kay-són Phôm-vi-hán về vấn đề này.
- Phân tích, đánh giá một cách tương đối có hệ thống và toàn diện thực trạng, chỉ rõ những ưu điểm, thành tựu cũng như hạn chế, bất cập tồn tại trong tổ chức bộ máy và hoạt động thực tiễn của Nhà nước Lào qua các giai đoạn.
- Đề xuất hệ thống quan điểm có căn cứ khoa học và các giải pháp chủ yếu, có tính khả thi nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay.
Về mặt kiến nghị, tác giả nhấn mạnh việc tiếp tục thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật, tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật, đẩy mạnh phân cấp quản lý hành chính gắn với năng lực thực tế của cơ sở, và mở rộng cơ chế để nhân dân tham gia giám sát cơ quan công quyền.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, phạm vi tiếp cận chủ yếu tập trung vào cơ sở lý luận vĩ mô và mô hình thiết kế thể chế tổng thể; luận án chưa thể đi sâu vào chi tiết kỹ thuật lập pháp của từng đạo luật chuyên ngành hoặc quy trình tố tụng cụ thể của các nhánh tư pháp. Mặt khác, văn bản luận án thừa nhận nguồn tư liệu lý luận và tổng kết thực tiễn về nhà nước pháp quyền tại Lào trong giai đoạn nghiên cứu còn khá khiêm tốn.
Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình khoa học sau này có thể kế thừa khung lý thuyết của luận án để đi sâu nghiên cứu các vấn đề chuyên biệt như: cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp tại Lào; cải cách chế độ công vụ và trách nhiệm pháp lý của cán bộ công chức; cơ chế bảo hiến và giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật; cũng như khảo sát xã hội học thực nghiệm về mức độ tiếp cận pháp luật và công lý của các tầng lớp nhân dân các bộ tộc Lào.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị đối với các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật học, Chính trị học, Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước: Luận án cung cấp cơ sở lý luận hệ thống về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và lịch sử nhà nước Lào.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu tại các học viện, trường đại học: Có thể khai thác Tiết 2.3 (tư tưởng Kay-són Phôm-vi-hán), Tiết 2.4 (bản chất và đặc trưng nhà nước pháp quyền) và Tiết 2.6 (kinh nghiệm Việt Nam vận dụng vào Lào) phục vụ biên soạn bài giảng môn Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Lịch sử nhà nước và pháp luật.
- Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ pháp chế, cán bộ nghiên cứu lý luận của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và các cơ quan nhà nước Lào: Chương 4 của luận án cung cấp các luận cứ thực tiễn trực tiếp phục vụ công tác cải cách hành chính, đổi mới tổ chức Quốc hội, cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa và xác định những đặc trưng cơ bản nào của Nhà nước pháp quyền?
Luận án khái quát: Nhà nước pháp quyền là một mô hình tổ chức nhà nước, trong đó hiến pháp và luật có vị trí tối thượng, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; dân chủ, quyền con người, quyền công dân được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật; bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực và có mối quan hệ mật thiết với xã hội công dân. Luận án xác định 6 đặc trưng cơ bản: tính tối thượng của hiến pháp và luật; nhân dân là chủ thể quyền lực; ghi nhận và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo đảm dân chủ; tổ chức bộ máy phân chia quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp); và quan hệ mật thiết với xã hội công dân.
2. Hiến pháp năm 1991 giữ vị trí như thế nào trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Lào theo phân tích của tác giả?
Theo luận án, sau Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ V (1991), Hiến pháp năm 1991 ra đời là một sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng. Đây là đạo luật cơ bản có giá trị pháp lý cao nhất, thể chế hóa đường lối trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời là cơ sở pháp lý căn bản để xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nhà nước pháp quyền và nền pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
3. Tư tưởng của Chủ tịch Kay-són Phôm-vi-hán về xây dựng nhà nước được luận án hệ thống hóa ở những nội dung cốt lõi nào?
Tác giả làm rõ tư tưởng của Chủ tịch Kay-són Phôm-vi-hán tập trung vào việc khẳng định nhà nước phải thực sự của nhân dân lao động, nhân dân là người làm chủ đất nước; nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và đề cao việc thực thi nghiêm minh pháp chế; củng cố khối đại đoàn kết các bộ tộc Lào; và tăng cường vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đối với bộ máy nhà nước.
4. Luận án chỉ ra những kinh nghiệm nào của Việt Nam có thể nghiên cứu, vận dụng cho Lào?
Tại Tiết 2.6, luận án chỉ ra các kinh nghiệm thực tiễn từ Việt Nam: đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; đổi mới tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội; đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; cải cách tư pháp nhằm bảo đảm tính độc lập của tòa án trong xét xử; và xây dựng cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
5. Luận giải của tác giả về mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và tính tối cao của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền Lào là gì?
Kế thừa các nghiên cứu lý luận chính trị - pháp lý, luận án khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào không mâu thuẫn mà là điều kiện tiên quyết bảo đảm bản chất của dân, do dân, vì dân của nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng việc đề ra đường lối, chủ trương, định hướng công tác cán bộ và kiểm tra, giám sát; đồng thời Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, lãnh đạo thể chế hóa đường lối của Đảng thành các quy phạm pháp luật để quản lý xã hội.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vanhseng Keobounphanh là công trình khoa học chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, giải quyết có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của dân, do dân và vì dân. Bằng phương pháp tiếp cận định tính kết hợp phân tích chuẩn mực pháp lý và khảo cứu lịch sử, luận án đã làm rõ các giá trị phổ biến của học thuyết pháp quyền, tư tưởng của Chủ tịch Kay-són Phôm-vi-hán và kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng thể chế và bộ máy nhà nước Lào từ năm 1991, công trình đã đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp toàn diện về lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới.