Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 1. Các công trình nghiên cứu về các vấn đề cụ thể trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Xây dựng NNPQ đang trở thành một xu thế khách quan tất yếu đối với các quốc gia dân chủ trong thế giới hiện đại. Ở nhiều nước ở phương Tây và phương Đông đã có những công trình nghiên cứu về NNPQ được tiến hành trên nhiều góc độ khác nhau.
Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu sau đây: - C.Ăngghen, Góp phần phê phán triết học pháp quyền [35, tr. Trong quá trình phê phán học thuyết của Hêghen, C.Mác cho rằng không phải nhà nước sinh ra xã hội, mà chính gia đình và xã hội dân sự là những tiền đề của nhà nước, chính chúng mới là yếu tố thực sự tích cực. Cho nên việc nghiên cứu nhà nước phải dựa vào phân tích xã hội công dân. Đó là kết quả của quá trình tiếp thu có phê phán của C.Mác với tư tưởng về Triết học pháp quyền của Hêghen, phủ nhận quan điểm có tính tiêu cực đối với công cuộc đấu tránh giải phóng con người và xã hội loài người.
Hệ thống lý luận này đã từng đóng vai trò quan trọng, tạo động lực mạnh mẽ, trang bị nền tảng lý luận cho các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người trên toàn thế giới. - Albert Ven Diecy (1885), “Introduction to the study of the law of the Constitution” (Giới thiệu về các nghiên cứu về luật hiến pháp) [92, tr. Dicey là người Vương quốc Anh đầu tiên sử dụng khái niệm pháp quyền (rule of law) một cách rộng rãi. Học thuyết của ông có ảnh hưởng hết sức sâu rộng trong giới thẩm phán và luật sư theo hệ thống luật án lệ (common law).
Nội dung chính của học thuyết pháp quyền do Dicey khởi xướng nhấn mạnh một số khía cạnh sau: + Sự ngự trị tuyệt đối của pháp luật như là sự hạn chế ảnh hưởng của việc sử dụng quyền lực một cách tùy tiện. Yêu cầu đầu tiên và chủ yếu đối với chế độ pháp quyền là không có chuyên quyền và tùy tiện trong lĩnh vực Luật Hình sự và tự do cá nhân; 7 + Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai được đứng trên pháp luật, tất cả mọi người không phụ thuộc vào đẳng cấp và các điều kiện khác đều là đối tượng điều chỉnh của pháp luật. Yêu cầu này cũng đòi hỏi các viên chức chính phủ phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với việc gây ra thiệt hại như bất kỳ cá nhân nào trong xã hội; + Các nguyên tắc trong hiến pháp không phải là nguồn gốc mà là kết quả của những quyền của cá nhân. Ông cho rằng sự phát triển của học thuyết pháp quyền đã làm cho các yếu tố cơ bản của pháp quyền ngày càng được mở rộng, giúp cho học thuyết pháp quyền thích ứng và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Dưới ánh sáng pháp quyền, pháp luật chỉ là pháp luật thực sự khi đáp ứng được chức năng cơ bản của nó là hướng dẫn hành vi con người. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các học thuyết pháp quyền hiện đại, ông khẳng định pháp quyền được công nhận khi có đủ các yếu tố như: Khả năng của các quy tắc pháp lý, chuẩn mực, nguyên tắc trong việc hướng dẫn người dân thực hiện công việc của họ. Mọi người phải có thể hiểu pháp luật và tuân thủ chúng; tính hiệu lực của pháp luật, pháp luật phải thực sự hướng dẫn dân chúng; tính ổn định, để giúp các cá nhân triển khai các kế hoạch và phối hợp hành động trong tương lai, pháp luật cần phải có sự ổn định hợp lý; tính tối cao của pháp luật, pháp luật cần phải chi phối mọi công chức, thẩm phán và người dân bình thường; những thiết chế để thực thi một nền công lý không thiên vị với những thủ tục xét xử công bằng. Để đạt được yêu cầu này, pháp luật phải đáp ứng được các yêu cầu sau: Pháp luật phải mang tính tổng quát; pháp luật phải được công bố công khai, không được giữ bí mật; pháp luật không được hồi tố; pháp luật phải rõ ràng; pháp luật phải hài hòa, không được mâu thuẫn; pháp luật không được đưa ra những điều khoản không thực hiện được; pháp luật phải mang tính ổn định; pháp luật phải được áp dụng một cách nhất quán.
- Josel Thesing biên tập (2002), Nhà nước pháp quyền, gồm một số tiểu luận của các học giả nước ngoài [24]. Nghiên cứu của các tác giả tập trung giải quyết 8 nhiều vấn đề liên quan đến các giá trị của Nhà nước pháp quyền và chế độ pháp trị như: nhà nước tồn tại để đem lại lợi ích cho công dân của mình; chế độ pháp trị là một sự bảo vệ dân chủ và quyền con người, ở đó có sự ràng buộc của pháp luật và công lý với quyền lực nhà nước, sự kiểm soát quyền lực nhà nước bằng phân định quyền lực, đề cao dân chủ và quyền tài phán hiến pháp. Đặc biệt các nghiên cứu còn quan tâm làm rõ các điều kiện tiên quyết, cũng như các khó khăn thách thức đề thực thi chế độ pháp trị. Ngoài ra còn có nhiều bài viết về Nhà nước pháp quyền của tác giả nước ngoài ở phương Tây như: David Kairys (2003), Researching for Rule of Law, Suffolk University Law Review (Nghiên cứu Nhà nước pháp quyền, tạp chí ĐH Suffolk); John K.
Mục tiêu và nhiệm vụ của cuốn sách này là xây dựng cơ sở lý luận về NNPQ XHCN, đưa ra những luận điểm khoa học có tính hệ thống về NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân. Trên cơ sở nghiên cứu của đề tài, các tác giả đã đề cập đến học thuyết NNPQ, sự vận dụng và những đặc trưng của học thuyết NNPQ trong lịch sử phương Tây và phương Đông, đồng thời đã khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, về NNPQ của dân, do dân, vì dân là cơ sở tư tưởng rất quan trọng định hướng quá trình xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam. NNPQ không phải là sản phẩm riêng của xã hội tư bản chủ nghĩa mà có thể được xây dựng trong xã hội XHCN; NNPQ XHCN 9 khác với NNPQ tư sản ở mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ; sự khác nhau đó được quy định bởi cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của chế độ XHCN. Với bản chất của nhà nước XHCN Việt Nam, tác giả khái quát và trình bày rõ khái niệm, đặc trưng cơ bản và chức năng của NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, đồng thời nghiên cứu các yếu tố quy định, chi phối quá trình xây dựng NNPQ ở Việt Nam.
Trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn, các tác giả đã kiến nghị những vấn đề cụ thể về những phương hướng và giải pháp chủ yếu xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam. Để xây dựng NNPQ XHCN, cần tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mới về lý luận trong quá trình chuyển đổi của đất nước và của các yếu tố quốc tế. Tiến hành đổi mới tiếp tục hệ thống chính trị, tăng cường sự lãnh đạo và phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà nước, cải cách mạnh mẽ bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức tốt việc thi hành pháp luật. Xây dựng cơ chế phản biện xã hội và giám sát xã hội, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho xã hội dân sự hoạt động bình thường và lành mạnh.
Tác giả đã tiếp cận dưới góc độ phân tích của khoa học pháp lý, trên cơ sở khái quát về mô hình thiết kế tổ chức bộ máy nhà nước trên thế giới, nêu bật sự khác biệt và tính phổ quát về NNPQ. Trong đó phân tích chỉ rõ NNPQ là yêu cầu, giá trị cơ bản của chế độ dân chủ, tạo nên sự đồng thuận xã hội. Với bản chất nhà nước XHCN Việt Nam, tác giả khái quát và nêu rõ những đặc trưng của NNPQ dân chủ XHCN. Đồng thời, với việc nghiên cứu phân tích thực trạng tổ chức và phương thức hoạt động của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, từ đó đề xuất mô hình tổng thể hoạt động của các thiết chế trong NNPQ XHCN Việt Nam.
Mặt khác, tác giả đề xuất mô hình tổng thể các cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước trong NNPQ XHCN, cụ thể trực tiếp đề xuất, xây dựng mô hình kiểm tra, giám sát bên ngoài bộ máy nhà nước bao gồm: Kiểm tra Đảng, giám sát của MTTQ, các đoàn thể nhân dân, thanh tra nhân dân, cá nhân, công dân đối với hoạt động bộ máy nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. - Tạ Xuân Đại (2004): Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, [10]. Tác giả 10 đã nghiên cứu về tổ chức bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác giả đã đưa ra nhiều luận cứ khoa học về xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam không hề mâu thuẫn với sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền.
Sự lãnh đạo của Đảng Công sản Việt Nam là điều kiện để xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng nhà nước và thực hiện quyền giám sát đối với mọi tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, kể cả tổ chức Đảng. Nhiệm vụ chủ yếu của Đảng là xây dựng, bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cho tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, đó cũng chính là bản chất và yêu cầu của việc xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong công trình nghiên cứu khoa học này, tác giả đã đề cập đến 6 vấn đề có tính tổng thể.
Phần thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân. Phần thứ hai, đối mới tổ chức và hoạt động của quốc hội đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.