Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 92 29 013) với đề tài "Truyền đơn cách mạng ở Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945" do nghiên cứu sinh Trương Thị Phương thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của Đinh Quang Hải và Phạm Hồng Tung (Hà Nội, năm 2024).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Kể từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858), các phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc liên tục nổ ra nhưng không đạt thắng lợi do khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2-1930 (từ tháng 10-1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương) đã tạo ra bước ngoặt lịch sử. Xác định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng đặc biệt coi trọng công tác cổ động và tuyên truyền nhằm tập hợp, giác ngộ lực lượng lao động. Trong các hình thức tuyên truyền (báo chí, diễn thuyết, tranh cổ động, truyền đơn), truyền đơn được xem là công cụ trực diện, ngắn gọn, có khả năng phổ biến rộng rãi trong hoàn cảnh hoạt động bí mật.

Truyền đơn vốn là sản phẩm của văn hóa chính trị phương Tây, xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XIX trong các cuộc vận động chính trị tại châu Âu, sau đó du nhập vào Việt Nam thời cận đại. Các nhà yêu nước và Đảng Cộng sản đã tiếp thu hình thức này để truyền tải thông điệp cách mạng, uốn nắn nhận thức lệch lạc, đấu tranh chống các luận điệu của chính quyền thực dân. Trong bối cảnh hiện nay, dù truyền thông đa phương tiện và Internet phát triển mạnh, truyền đơn vẫn giữ vị trí trong một số phong trào xã hội và tôn giáo.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: phần lớn các công trình lịch sử cận - hiện đại từ trước đến nay chỉ coi truyền đơn là một phương tiện phụ trợ, đề cập tản mạn hoặc nghiên cứu đơn lẻ một vài văn bản; chưa có công trình nào khảo cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về truyền đơn cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương giai đoạn 1930-1945.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của luận án là khôi phục một phần diện mạo lịch sử của truyền đơn cách mạng trong phong trào cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 cả về hình thức và nội dung; mở ra góc nhìn mới để hiểu rõ hơn quá trình vận động cách mạng; xác định vị trí, vai trò của truyền đơn trong công tác tuyên truyền của Đảng, qua đó làm rõ tầm vóc và ý nghĩa của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
  2. Trình bày bối cảnh quốc tế, tình hình Việt Nam và chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với công tác tuyên truyền và truyền đơn cách mạng.
  3. Tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ hình thức và nội dung của truyền đơn cách mạng từ năm 1930 đến năm 1945 qua các giai đoạn: 1930-1935, 1936-1939 và 1939-1945.
  4. Đưa ra những nhận xét về truyền đơn cách mạng và những đóng góp của truyền đơn cách mạng đối với phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam thời kỳ 1930-1945.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Truyền đơn là gì? Những yếu tố tác động đến sự ra đời của truyền đơn cách mạng?
  2. Hình thức và nội dung của truyền đơn cách mạng?
  3. Đặc điểm, tính chất, những đóng góp của truyền đơn cách mạng đối với phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam trong những năm 1930-1945 như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Truyền đơn cách mạng ở Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945, trọng tâm là truyền đơn của Đảng Cộng sản Việt Nam (sau là Đảng Cộng sản Đông Dương) và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo. Tác giả lý giải việc không nghiên cứu truyền đơn của các tổ chức khác (như Việt Nam Quốc dân Đảng, Đại Việt Quốc dân Đảng, Đảng Lập hiến...) vì trong quá trình khảo sát thực tế, phỏng vấn và tiếp cận tài liệu lưu trữ, tác giả và các học giả đi trước đều không phát hiện được tài liệu truyền đơn của các tổ chức này.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1930 (thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam) đến năm 1945 (thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám). Khung thời gian được chia thành 3 giai đoạn: 1930-1935, 1936-1939, 1939-1945; đồng thời có mở rộng khảo sát giai đoạn trước năm 1930 và sau năm 1945.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài:

Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Nhóm nghiên cứu lịch sử tổng quát và lịch sử Đảng:

    • Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế, tập 1 (1930 - 1945) của Ban Chấp hành Đảng bộ Thừa Thiên Huế (1995) ghi nhận quá trình "Việt Minh hóa" và công tác tuyên truyền tập hợp lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa.
    • Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 9 của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2000) trình bày các hoạt động đấu tranh quân sự và sự chuyển hướng chiến lược của Đảng gắn với công tác cổ động.
    • Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hà Nội (1930 - 2000) (2004) và Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (1930 - 1975) (2015) đề cập đến hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng tại các trung tâm đô thị.
    • Lịch sử Việt Nam tập 9 từ năm 1930 đến năm 1945 của Tạ Thị Thúy (Chủ biên), Nguyễn Ngọc Mão, Võ Kim Cương (2014) khai thác tư liệu lưu trữ về chủ trương của Đảng.
    • Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I (1930-1954), quyển I (1930-1945) của Viện Lịch sử Đảng (2021) tổng kết sự lãnh đạo của Đảng qua từng giai đoạn.
    • Các công trình thông sử khác như Chặt xiềng của Ứng Hòe (1946); Tài liệu tham khảo lịch sử cận đại Việt Nam (12 tập, 1955-1958) và Lịch sử 80 năm chống Pháp (1956) của Trần Huy Liệu; Lịch sử cận đại Việt Nam (4 tập, 1963) của Trần Văn Giàu và Đinh Xuân Lâm; Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam của Nguyễn Văn Kiệm (2003); Lịch sử Việt Nam, tập II của Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên, 2004); Lịch sử Việt Nam cận hiện đại (1858-1975) của Hà Minh Hồng (2005); Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 2 (2015) và Lịch sử Việt Nam tập III (2016) do Đinh Xuân Lâm chủ biên.
  • Nhóm nghiên cứu chuyên đề về tuyên truyền, vận động và truyền đơn:

    • Thanh niên Tiền phong và các phong trào học sinh, sinh viên, trí thức Sài Gòn 1939 - 1945 của Huỳnh Văn Tiểng, Bùi Đức Tịnh (1995) làm rõ vai trò vận động trí thức, thanh niên.
    • Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000) của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000) trình bày công tác tuyên truyền trong cao trào cách mạng.
    • Các bài báo chuyên sâu của Đào Thị Diến (2000) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 2 và số 9) khảo sát các truyền đơn năm 1928-1929 và thời kỳ tiền Xô Viết Nghệ Tĩnh.
    • Bài viết của Phạm Thị Huệ (2006) trên Tạp chí Văn thư lưu trữ Việt Nam (số 5) và chuyên khảo Phong trào dân tộc dân chủ ở Nam Kỳ 1930 – 1945 nghiên cứu qua tài liệu lưu trữ (2013) khảo sát các văn bản truyền đơn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
    • Các công trình của Phạm Hồng Tung: Lịch sử cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ ở Việt Nam (1936-1939) (2008), Nội các Trần Trọng Kim bản chất, vai trò và vị trí lịch sử (2010, tái bản 2018), và Lịch sử cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam (2013).
    • Trịnh Nhu, Trần Trọng Thơ (2012) và Trịnh Nhu (2020) nghiên cứu về tiến trình vận động Cách mạng Tháng Tám và công tác quy tụ nguồn lực dân tộc.
    • Các luận án tiến sĩ: Nguyễn Thị Thanh Thủy (2013) về các cuộc vận động dân chủ 1904-1945; Trương Thị Bích Hạnh (2015) về sự vận động tư tưởng trong các chính đảng; Đặng Thị Minh Phượng (2015) về công tác vận động trí thức của Đảng giai đoạn 1930-1945.

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

  • Daniel Hémery (1975) với tác phẩm Révolutionnaires vietnamiens et pouvoir colonial en Indochine (communistes, trotskystes, nationalistes à Saigon de 1932 à 1937) khảo sát nội tình nhóm La Lutte (Tranh Đấu) tại Sài Gòn và chính sách kiểm soát báo chí, tuyên truyền của chính quyền thực dân.
  • Thomas Hodgkin (1981) trong công trình Viet Nam the Revolutionary Path phân tích 8 nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, trong đó có hoạt động tuyên truyền vận động của Mặt trận Việt Minh giai đoạn 1941-1945.
  • Huỳnh Kim Khánh (1982) với chuyên khảo Vietnamese Communism 1925-1945 phân tích sự kết hợp giữa chủ nghĩa Marx-Lenin và chủ nghĩa yêu nước, dẫn chứng các phiên tòa xét xử những người in ấn, rải truyền đơn của Đảng.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trên cung cấp nền tảng tư liệu và nhận thức lịch sử quan trọng nhưng chưa đặt truyền đơn cách mạng thành đối tượng khảo sát độc lập, có hệ thống. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách hệ thống hóa tài liệu gốc, phân tích bối cảnh, chủ trương, hình thức kỹ thuật, nội dung, cơ chế tiếp nhận của quần chúng và đánh giá toàn diện vị trí của truyền đơn trong tiến trình lịch sử 1930-1945.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở lý thuyết: Luận án dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Sử học mác-xít: tôn trọng sự thực khách quan, cụ thể, toàn diện và có phê phán sử liệu.
  • Hướng tiếp cận liên ngành: Kết hợp giữa Sử học và Khoa học Chính trị nhằm phân tích truyền đơn vừa như một nguồn sử liệu phản ánh diễn trình lịch sử, vừa như một công cụ truyền thông chính trị trong đấu tranh giai cấp và giải phóng dân tộc.
  • Tiếp cận lịch đại và đồng đại:
    • Lịch đại: Khảo sát quá trình du nhập truyền đơn từ phương Tây, sự tiếp thu và vận dụng qua từng giai đoạn cách mạng (1930-1935, 1936-1939, 1939-1945) so với các Nghị quyết của Đảng.
    • Đồng đại: So sánh sự phân hóa về nội dung, hình thức và phạm vi phân phát giữa nông thôn và thành thị, giữa ba miền Bắc Kỳ - Trung Kỳ - Nam Kỳ.

Khái niệm và cấu trúc truyền đơn cách mạng

  • Khái niệm: Truyền đơn là tài liệu tuyên truyền dạng văn bản ngắn gọn do cá nhân hoặc tổ chức chính trị phát hành nhằm truyền đạt thông tin trực tiếp đến quần chúng, giúp họ hiểu mục đích, mục tiêu tranh đấu cụ thể và hướng dẫn phương thức tổ chức hành động. Truyền đơn cách mạng ở Việt Nam là tài liệu tuyên truyền cho đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm kêu gọi, tập hợp và lãnh đạo quần chúng đấu tranh giải phóng dân tộc. Luận án cũng gộp các tài liệu áp phích vào diện nghiên cứu như một dạng truyền đơn khổ lớn.
  • Cấu trúc cơ bản của truyền đơn (gồm 3 phần):
    1. Phần mở đầu: Nêu đối tượng hiệu triệu (công nhân, nông dân, binh lính, học sinh, phụ nữ, đồng bào...).
    2. Phần nội dung: Tố cáo tội ác của thực dân, phong kiến; nêu đường lối, mục tiêu tranh đấu cụ thể và khẩu hiệu hành động.
    3. Phần kết thúc: Tên tổ chức phát hành (hoặc lược bỏ để giữ bí mật trong điều kiện bị khủng bố).
Thành phần cấu trúc Đặc điểm thể hiện trong truyền đơn cách mạng
Lời hiệu triệu mở đầu Xác định rõ nhóm đối tượng vận động (thay đổi linh hoạt theo từng thời kỳ cách mạng)
Nội dung và khẩu hiệu Tố cáo áp bức, nêu mục tiêu kinh tế - chính trị cụ thể, định hướng hành động
Tên tổ chức phát hành Định danh tổ chức lãnh đạo (Đảng, Công hội, Nông hội, Mặt trận Việt Minh...), một số bản khuyết để bảo đảm bí mật

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Sử dụng phép biện chứng duy vật và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; quán triệt quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác quần chúng.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Hai phương pháp chủ đạo nhằm tái hiện tiến trình lịch sử theo không gian, thời gian và làm rõ bản chất, quy luật phát triển của truyền đơn cách mạng.
    • Phương pháp so sánh: So sánh hình thức, nội dung truyền đơn qua các giai đoạn lịch sử (trước 1930, 1930-1935, 1936-1939, 1939-1945) và giữa các vùng miền.
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các nguồn sử liệu thành hệ thống dữ liệu phục vụ trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
    • Phương pháp thống kê: Thống kê số lượng, phân loại các loại hình truyền đơn.
    • Phương pháp chuyên gia và phỏng vấn nhân chứng lịch sử: Trao đổi với các nhà nghiên cứu chuyên sâu và phỏng vấn nhân chứng hoạt động thời kỳ tiền khởi nghĩa để đối chiếu, kiểm chứng tài liệu văn bản.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Tài liệu gốc sơ cấp: Các bản truyền đơn, áp phích, văn bản lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, II; Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng (lưu giữ hơn 500 truyền đơn thời kỳ 1925-1945); Viện Lịch sử Đảng; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Bảo tàng Hồ Chí Minh; Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh; Lưu trữ Liên bang Nga.
  • Tài liệu gốc đã xuất bản: Hai tuyển tập tài liệu: Truyền đơn cách mạng trước tháng 9 năm 1945 (Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2004) và Tuyên truyền cách mạng trước năm 1945 (Cục Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, 2001); các tập Văn kiện Đảng.
  • Tài liệu báo chí công khai: Báo chí thời kỳ 1930-1945 đăng tin về các vụ bắt giữ, xét xử người rải truyền đơn.
  • Tài liệu thứ cấp và tư liệu cá nhân: Hồi ký, hồi tưởng của các nhân chứng lịch sử; tư liệu của Đại tá TS. Nguyễn Văn Khoan, Trịnh Anh Minh, TS. Trần Xuân Trí; tư liệu phỏng vấn điền dã.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm truyền đơn, lịch sử du nhập của truyền đơn từ phương Tây vào phong trào chính trị Việt Nam thời cận đại. Tác giả đối chiếu truyền đơn với các hình thức tuyên truyền khác:

  • So với truyền thống truyền miệng dân gian (sấm truyền, câu chuyện kiến đục chữ trên lá thời khởi nghĩa Lam Sơn): Truyền đơn bằng chữ viết xác lập thông điệp chính xác, hạn chế tình trạng "tam sao thất bản".
  • So với sách báo: Sách báo mang tính lý luận sâu, định kỳ nhưng kén người đọc; truyền đơn khổ nhỏ, không định kỳ, phân phát nhanh, dễ tiếp cận quảng đại quần chúng lao động.

Chương này cũng tổng lược 4 nhóm nhiệm vụ giải quyết khoảng trống học thuật: hệ thống hóa tư liệu gốc, phân tích bối cảnh - chủ trương - hình thức - nội dung, giải mã cơ chế tiếp nhận của lực lượng quần chúng lao động đa số không biết chữ (thông qua việc nghe người biết chữ đọc lại), và đánh giá vai trò của truyền đơn trong phong trào cách mạng.

Chương 2: Truyền đơn cách mạng trong phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam giai đoạn 1930-1935

Khảo sát bước đệm trước năm 1930, tác giả ghi nhận các truyền đơn của Quốc tế Cộng sản (như bản Khởi hô của hội Internationale Communiste ngày 27-2-1924, truyền đơn gửi lính An Nam từ Toulouse năm 1929) và các tổ chức yêu nước giai đoạn 1925-1929:

  • Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên: Truyền đơn viết tay ngày 4-11-1925 kêu gọi công nhân, nông dân, binh lính; truyền đơn kỷ niệm ngày Quốc tế Đỏ 1-8-1929 tại Bắc Kỳ.
  • Tân Việt Cách mạng Đảng: Truyền đơn ngày 7-1-1929 và tháng 9-1929 vận động công - nông - binh thành lập chính phủ Xô Viết; truyền đơn năm 1928 vận động học sinh bãi khóa.
  • Đông Dương Cộng sản Đảng: Truyền đơn tiếng Pháp ngày 31-7-1929 gửi binh lính, thủy thủ Pháp; truyền đơn ngày 28-5-1929 cho công nhân xưởng Avia; truyền đơn ngày 19-6-1929 cho công nhân nhà máy đèn Nam Định; các truyền đơn rải tại khu mỏ Quảng Yên, Hải Phòng, Vinh - Bến Thủy nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga (10-1929) và Công xã Quảng Châu (12-1929).
  • An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn: Các truyền đơn phát hành cuối năm 1929 kêu gọi công nông binh thành lập chính quyền Xô Viết, truyền đơn binh vận gửi lính khố đỏ, khố xanh.

Bước vào giai đoạn 1930-1935, sau khi Đảng Cộng sản thành lập, truyền đơn phát triển mạnh mẽ về số lượng và tính tổ chức trong cao trào 1930-1931 với đỉnh cao Xô Viết Nghệ Tĩnh và giai đoạn phục hồi hệ thống (1932-1935).

  • Mục đích và đối tượng: Tập trung trực diện vào hai giai cấp công nhân và nông dân, kết hợp binh vận; chưa mở rộng sang tầng lớp phú hào, địa chủ.
  • Kỹ thuật in ấn và phân phát: In thạch, in đất sét, viết tay trên giấy thường, giấy láng; phân phát bằng cách rải trên đường phố, dán ở chợ, cổng nhà máy, ném vào trại lính.
  • Nội dung: Kết hợp khẩu hiệu kinh tế (tăng lương, giảm giờ làm, chống cúp phạt, giảm sưu thuế) với khẩu hiệu chính trị (đánh đổ đế quốc Pháp, đánh đổ Nam triều phong kiến, lập chính phủ công nông binh).
  • Sự đàn áp của thực dân Pháp: Tăng cường kiểm soát in ấn, mật thám theo dõi, mở các phiên tòa xét xử nghiêm khắc những người tàng trữ, phát tán truyền đơn.

Chương 3: Truyền đơn cách mạng trong cuộc vận động dân sinh, dân chủ ở Việt Nam giai đoạn 1936-1939

  • Bối cảnh và chủ trương: Dưới tác động của Mặt trận Nhân dân Pháp và nguy cơ chủ nghĩa phát xít, Đảng chuyển hướng chiến lược, chủ trương kết hợp đấu tranh công khai, nửa công khai với hoạt động bí mật; phát động phong trào Đông Dương Đại hội.
  • Mục đích và đối tượng tiếp nhận: Mở rộng thành phần tiếp nhận đến các tầng lớp xã hội: anh em lái xe, thợ thủ công, người trồng thuốc lá, phụ nữ, tiểu tư sản, thân hào nhân sĩ.
  • Hình thức và nội dung: Truyền đơn xuất hiện công khai hơn (như truyền đơn của các Ủy ban hành động ủng hộ Đông Dương Đại hội tại Chợ Mới, Nam Kỳ), nội dung tập trung đòi quyền tự do lập hội, tự do báo chí, chống thuế khóa hà khắc, đòi cải thiện đời sống dân sinh, chống chiến tranh phát xít.
  • Phản ứng của chính quyền thực dân: Tăng cường kiểm duyệt báo chí, thu giữ tài liệu và giải tán các tổ chức hành động của quần chúng.

Chương 4: Truyền đơn cách mạng trong quá trình vận động cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa giai đoạn 1939-1945

  • Bối cảnh và chuyển hướng chiến lược: Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Nhật xâm chiếm Đông Dương; Đảng thành lập Mặt trận Việt Minh (1941), đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.
  • Kỹ thuật và phương thức phân phát: Thiết lập các xưởng in bí mật tại vùng căn cứ và chiến khu (sử dụng in sáp, khắc gỗ, in thạch); mạng lưới giao liên chuyển truyền đơn vào đô thị và vùng nông thôn.
  • Nội dung: Kêu gọi toàn dân gia nhập Việt Minh, chống ách áp bức kép Pháp - Nhật, chống nhổ lúa trồng đay, phá kho thóc cứu đói giải quyết nạn đói năm 1945, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa.
  • Cao trào tiền khởi nghĩa và Tổng khởi nghĩa: Sau ngày 9-3-1945, truyền đơn phát triển nhảy vọt, trở thành hiệu lệnh thúc giục quần chúng nổi dậy giành chính quyền trong tháng Tám năm 1945. Chính quyền Pháp, Nhật và tay sai tăng cường khủng bố nhưng không ngăn chặn được làn sóng truyền đơn cách mạng.

Chương 5: Nhận xét về truyền đơn cách mạng trong phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945

Chương 5 đúc kết các nhận xét về đặc điểm và đóng góp của truyền đơn cách mạng:

  • Đặc điểm: Ngôn ngữ ngắn gọn, đanh thép, thông điệp trực tiếp; nội dung bám sát từng chuyển hướng chiến lược của Đảng qua các thời kỳ 1930-1935, 1936-1939 và 1939-1945.
  • Phương thức lan tỏa: Khắc phục tình trạng đa số quần chúng mù chữ bằng cách truyền tay, đọc to cho nhau nghe tại các buổi sinh hoạt bí mật hoặc chợ búa, biến truyền đơn chữ viết thành thông điệp truyền miệng rộng rãi.
  • Đóng góp lịch sử: Là vũ khí sắc bén trong công tác tư tưởng; giác ngộ và liên minh công - nông - binh; làm phân hóa hàng ngũ địch thông qua công tác binh vận; hướng dẫn hành động thực tiễn dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận

  • Về cách tiếp cận và phương pháp: Luận án áp dụng hướng tiếp cận liên ngành giữa Sử học và Khoa học Chính trị; phối hợp phương pháp tiếp cận lịch đại và đồng đại để giải mã truyền đơn như một công cụ truyền thông chính trị trong bối cảnh thuộc địa.
  • Về nguồn sử liệu: Hệ thống hóa và xác thực khối lượng lớn tư liệu gốc, đặc biệt là hơn 500 bản truyền đơn giai đoạn 1925-1945 đang lưu giữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và II, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và các bộ sưu tập tư nhân.
  • Về mặt nội dung: Tái hiện bức tranh toàn diện, liên tục về sự phát triển của truyền đơn cách mạng từ trước năm 1930 đến năm 1945; làm rõ mối quan hệ giữa chủ trương của Đảng với thực tiễn in ấn, phát tán và tiếp nhận truyền đơn của quần chúng.

Ý nghĩa thực tiễn

  • Cung cấp cơ sở tư liệu khoa học có hệ thống phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng và công tác tuyên giáo.
  • Rút ra các bài học lịch sử về nghệ thuật vận động quần chúng, định hướng dư luận và xây dựng thông điệp tuyên truyền của Đảng trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do khó khăn về kinh phí và khoảng cách địa lý, tác giả chưa thể tiếp cận và khai thác trực tiếp toàn diện các nguồn tài liệu lưu trữ ở nước ngoài như tại Pháp (Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Pháp - ANOM), Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan. Các tư liệu hồi ký nhân chứng lịch sử có sự khác biệt về góc nhìn chủ quan, đòi hỏi tiếp tục kiểm chứng cẩn trọng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng sưu tầm và đối chiếu các nguồn tư liệu lưu trữ hải ngoại; nghiên cứu so sánh sâu hơn giữa truyền đơn với hệ thống báo chí bí mật của Đảng; khảo cứu chi tiết mạng lưới in ấn và phát tán truyền đơn tại các địa phương đặc thù.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Khoa học Chính trị, Báo chí và Truyền thông.
  • Cán bộ làm công tác Tuyên giáo và Dân vận: Tham khảo các bài học kinh nghiệm về phương thức xây dựng khẩu hiệu, phân hóa đối tượng và tổ chức truyền thông chính trị trong vận động quần chúng.
  • Phần đáng tham khảo: Phương pháp phê phán, xử lý nguồn sử liệu truyền đơn gốc tại Chương 1; hệ thống tư liệu truyền đơn phân kỳ lịch sử tại các Chương 2, 3, 4; và các đúc kết về quy luật tuyên truyền tại Chương 5.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án chỉ tập trung nghiên cứu truyền đơn của Đảng Cộng sản mà không nghiên cứu các tổ chức cách mạng khác cùng thời kỳ?

Trong quá trình thu thập tài liệu tại các kho lưu trữ, khảo sát thực tế và phỏng vấn nhân chứng, tác giả không phát hiện được tài liệu truyền đơn gốc của các tổ chức chính trị khác (như Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng Đại Việt, hay Đảng Lập hiến). Các học giả đi trước trong và ngoài nước cũng thống nhất nhận định rằng hầu như không tìm thấy tài liệu truyền đơn của các tổ chức này còn lưu giữ.

2. Quần chúng lao động thời kỳ 1930-1945 đa số mù chữ đã tiếp nhận thông điệp từ truyền đơn bằng cách nào?

Truyền đơn cách mạng được viết bằng văn phong mộc mạc, câu từ ngắn gọn, vần điệu dễ nhớ. Khi truyền đơn được rải hoặc dán, những người biết chữ trong làng xóm, xí nghiệp đọc to cho những người không biết chữ cùng nghe, sau đó tiếp tục truyền miệng nội dung. Nhờ đó, thông điệp chữ viết nhanh chóng chuyển hóa thành các chỉ dẫn hành động thực tiễn trong quần chúng.

3. Cấu trúc tiêu chuẩn của một bản truyền đơn cách mạng thời kỳ này gồm những phần nào?

Một bản truyền đơn thông thường gồm 3 phần:

  1. Lời hiệu triệu mở đầu (xác định đối tượng: thợ thuyền, dân cày, binh lính, phụ nữ...).
  2. Nội dung chính (vạch trần tội ác thực dân, nêu khẩu hiệu kinh tế - chính trị và hướng dẫn hành động).
  3. Tên tổ chức phát hành (một số bản lược bỏ để bảo đảm bí mật khi bị đàn áp).

4. Luận án đã khai thác nguồn tư liệu gốc chủ yếu từ những cơ quan lưu trữ nào?

Các nguồn tư liệu gốc chính được khai thác tại: Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng (lưu trữ hơn 500 truyền đơn thời kỳ 1925-1945), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và II, Viện Lịch sử Đảng, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, và trang thông tin của Lưu trữ Liên bang Nga.

5. Đối tượng vận động của truyền đơn có sự khác biệt như thế nào giữa giai đoạn 1930-1935 và 1936-1939?

  • Giai đoạn 1930-1935: Đối tượng tập trung chủ yếu vào công nhân, nông dân và binh lính bản xứ nhằm phục vụ mục tiêu đấu tranh giai cấp và chống đế quốc.
  • Giai đoạn 1936-1939: Đối tượng được mở rộng ra nhiều tầng lớp xã hội khác nhau như thợ lái xe, người trồng thuốc, phụ nữ, tiểu thương, thân hào, nhân sĩ để phục vụ mặt trận dân chủ rộng rãi.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trương Thị Phương là công trình chuyên khảo hệ thống đầu tiên về truyền đơn cách mạng ở Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Bằng cách tiếp cận liên ngành Sử học và Khoa học Chính trị kết hợp xử lý nguồn tài liệu lưu trữ phong phú, luận án đã phục dựng toàn diện diện mạo, kỹ thuật in ấn, mạng lưới phát tán và nội dung tư tưởng của truyền đơn qua ba thời kỳ lịch sử. Kết quả nghiên cứu khẳng định truyền đơn là vũ khí tư tưởng trực tiếp và hiệu quả của Đảng Cộng sản Đông Dương, đóng góp thiết thực vào thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.