Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN GIAI ĐOẠN 1939 -1945 1. Những cơ sở của cuộc vận động nông dân 1. Tình hình giai cấp nông dân Việt Nam thời thuộc địa và những quan điểm về vị trí, vai trò của nông dân trong cách mạng giải phóng dân tộc Lịch sử Việt Nam ngay từ khi hình thành nhà nước là lịch sử của các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, và trong các cuộc đấu tranh ấy nông dân luôn là đội quân chủ lực. Nông dân Việt Nam từ rất sớm đã tham gia vào các phong trào chống phong kiến ngoại tộc như: phong trào chống quân Nam Hán thời Ngô Quyền, chống quân Nguyên thời Trần, chống quân Minh thời Lê Lợi, Nguyễn Trãi, chống Mãn Thanh thời Nguyễn Huệ,… Đến nửa cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, cuộc đấu tranh để bảo vệ nền độc lập dân tộc đã lôi cuốn đông đảo nông dân khắp ba miền Bắc, Trung, Nam.
Lực lượng đông đảo đi theo những người lãnh đạo phong trào như Trương Định, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng chính là nông dân. Khi thực dân Pháp vào xâm lược Việt Nam thì một trong những chính sách căn bản của thực dân Pháp là chiếm đoạt ruộng đất. Sự chiếm đoạt ruộng đất của thực dân Pháp là một chế độ được hợp pháp hóa, chính vì vậy mà tốc độ chiếm đoạt tăng lên một cách nhanh chóng. Trước năm 1890, khi chính quyền thực dân vừa mới thiết lập, số ruộng đất thực dân Pháp chiếm đoạt mới chỉ có 11.
Đến thời kỳ 1890 – 1900, sự chiếm đoạt ấy ngày càng phát triển mạnh. Đây là thời kỳ diễn ra cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, số diện tích bị chiếm đoạt trong thời kỳ lên đến 322. Thời kỳ từ 1900 đến 1920, thực dân Pháp chuyển mạnh sang việc khai khẩn đất trồng cao su và cà phê.“Ở Bắc Bộ, chúng chiếm đoạt ruộng đất nhiều ở các tỉnh trù phú nhất: Nam Định, Phủ Lý, Vĩnh Yên, Bắc Ninh (182.000 9 z ha trong số 500.000 ha ruộng đất bị chiếm đoạt toàn xứ. Cũng trong thời kỳ này, năm 1913, chúng cũng chiếm đoạt rất nhiều đất đai ở các tỉnh thượng du hoặc trung du như Thái Nguyên (39.749 ha), Bắc Giang (34.
Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam chẳng đem thêm chút gì vào sự giàu có mà chỉ làm tăng thêm sự nghèo khổ của nhân dân ta, đặc biệt là nông dân. Chính sách tước đoạt ruộng đất của thực dân Pháp đã đẩy hàng vạn nông dân Việt Nam rơi vào tình trạng không có ruộng cày cấy. Tính đến trước thời điểm của cuộc vận động dân chủ thì tình trạng thiếu hoặc không có ruộng là phổ biến đối với nông dân. Đến năm 1940, có 25% ruộng đất nằm trong tay tư bản ngoại quốc [37, tr.
Tình cảnh khốn cùng của nông dân được khắc họa rõ nét trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc: “Nói chung, người An Nam đều phải è ra mà chịu công ơn bảo hộ của nước Pháp. Riêng người nông dân An Nam lại càng phải è ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách nhục nhã hơn: là người An Nam, họ bị áp bức, là người nông dân, họ bị tước đoạt. Chính họ là những người lao khổ, làm để nuôi lũ người ăn bám, bọn đi khai hóa và những bọn khác. Chính họ phải sống cùng khổ, trong khi bọn đao phủ của họ lại sống phè phỡn; hễ mất mùa là họ chết đói.
Họ bị cướp giật từ mọi phía, bằng mọi cách, bởi nhà nước, bởi bọn phong kiến tân thời, bởi giáo hội thiên chúa…” [66, tr. Theo số liệu thống kê của Viện Sử học thì:“… trước Cách mạng tháng Tám, nông dân chiếm tới 97% tổng số nông hộ, nhưng chỉ chiếm 36% diện tích ruộng đất của cả nước. Ngoài ra, khoảng trên dưới 40% số hộ nông dân có chút ít ruộng tư, còn gần một nửa (ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và 2/3 số hộ (Nam Kỳ) không có lấy “một mảnh đất cắm dùi”. Ruộng đất bình quân của một hộ tiểu nông ở nước ta thấp nhất thế giới” [102, tr.
Như vậy: “Ở nước ta, trước Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp, giai cấp địa chủ phong kiến và Nhà chung là bọn ngồi không ăn bám. Chúng không quá 4% 10 z dân số, nhưng lại chiếm hơn 50% ruộng đất toàn quốc. Trong khi đó nông dân lao động là người khai phá ruộng đất, trực tiếp sản xuất, chiếm quá 90% dân số mà chỉ có ¼ ruộng đất, kể cả ruộng đất công. Số gia đình nông dân không có ruộng đất chiếm tới 62%.
27] Không chỉ chịu hậu quả từ nạn cướp đoạt ruộng đất, đời sống của người nông dân Việt Nam còn vô cùng cực khổ bởi những chính sách khai thác thuộc địa khác của thực dân Pháp, đó là chính sách thuế, cho vay nặng lãi, độc quyền thương mại, chính sách mộ phu,… Những chính sách ấy đã đẩy nông dân Việt Nam vào con đường bần cùng hóa. Trước tiên là chính sách thuế, ngay sau khi chiếm được các tỉnh Nam Bộ, thực dân Pháp đã dùng chế độ thuế hà khắc để tước đoạt nông dân và các tầng lớp nhân dân khác. Thực dân Pháp đề ra những thứ thuế vô cùng vô lý như thuế thân, đánh vào chính sự tồn tại của người dân, nặng nề nhất là những người nông dân bần nông và trung nông. Những nông dân chỉ có vài thước đất, không có lợi tức gì cũng phải đóng thuế như người có đến 4, 5 mẫu với lợi tức hàng năm lên đến 200 – 300 đô la,… Và trong tình trạng đó nông dân thiếu thuế là điều dễ hiểu.
Không còn con đường nào khác, họ phải bán vợ, đợ con, gán ruộng cho nhà giàu để lấy tiền nộp thuế. “Vì vậy, thuế là một món nợ máu của nông dân phải trả cho bọn thống trị. Nông dân càng phá sản, ruộng đất càng tập trung vào địa chủ, thực dân”. Bên cạnh thuế thân là một trong những loại thuế trực thu còn có thuế điền – một chính sách thuế hà khắc không kém thuế thân.
Thực dân Pháp đã tìm cách tăng thuế điền cho ngân sách, có tỉnh thuế điền phải đóng tăng thêm 1/3 hay 2/5 hay một nửa [38, tr. Thuế trực thu đã làm cho nông dân khốn quẫn, thì các loại thuế gián thu như: thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện,… là những thứ thuế gây nhiều tại họa cho nông dân. Thực dân Pháp đã dùng thủ đoạn nắm độc quyền việc bán muối, bán rượu và thuốc phiện với giá cao trong khi mua vào với giá rất hời chỉ bằng 1/5 giá bán. Những chính sách thuế này đem lại nguồn thu khổng lồ cho thực dân Pháp, làm cho 11 z đời sống nông dân ngày càng cực khổ, nhưng quan trọng hơn là đã đầu độc nhân dân ta về cả sức khỏe lẫn tinh thần.
“Tóm lại, chính sách thuế má của thực dân Pháp ở Việt Nam là những chiếc cùm đóng chặt nông dân vào sự phá sản, bần cùng, là những khối tạ đánh vào sụn lưng họ. Nó là một trong những tai họa khủng khiếp nhất đối với dân quê. Gia đình ly tán: vì thuế, tù tội: cũng vì thuế, đi đồn điền cao su, đi Tân thế giới xa xôi: lại cũng vì thuế…”. Chính vì vậy:“khẩu hiệu chống thuế mang một nội dung cách mạng to lớn, tập hợp được đông đảo quần chúng nông dân đấu tranh cách mạng” [38, tr.
Không chỉ bóc lột thuế tàn tệ, thực dân Pháp còn độc quyền thương mại, đặc biệt chính sách giá cả độc ác của thực dân Pháp trong việc mua thóc gạo xuất cảng đã đẩy nông dân vào con đường phá sản. Đây là chính sách đầu cơ, lũng đoạn khiến nông dân phải bán thóc gạo với giá rẻ. Giá gạo bán cho thực dân Pháp năm 1933 chỉ bằng 1/3 giá bán năm 1930. Giá gạo quá rẻ khiến hàng vạn nông dân phá sản, ruộng đất bỏ hoang nhiều.
Trong vụ mùa 1933 – 1934 ở Nam Bộ ruộng đất bỏ hoang lên tới 400. Những chính sách trên của thực dân Pháp đẩy nông dân Việt Nam vào con đường bần cùng hóa, nhiều người phải chạy về thành phố và các trung tâm công nghiệp kiếm việc làm với đồng lương rẻ mạt. Một chính sách bóc lột dã man nữa của thực dân Pháp đối với nông dân là chính sách mộ phu. Tình trạng thừa nhân khẩu ở nông thôn trở thành nguồn dự trữ nhân công cho tư bản Pháp.
Chính sách mộ phu của Pháp nhằm lấy nhân công cho những nơi khai phá phục vụ cho việc kinh doanh nông nghiệp của chúng ở những nơi xa xôi, hiểm độc như những đồn điền cao su Dầu Tiếng, Biên Hòa, Tây Ninh, những đồn điền cà phê ở Tây Nguyên… Những người đi phu không ai khác chính là những nông dân xa cơ lỡ vận, hết phương sinh sống trong làng mạc, trước sự lừa gạt và ép buộc của bọn thống trị đã phải bỏ quê hương ra đi. Họ bị bóc lột một cách trắng trợn: “đau ốm không thuốc men, không được trả lương, bị đánh đập tàn nhẫn, và nói chung, là bị đối xử như những con vật rẻ tiền nhất, để rồi hết hạn giao kèo, 12 z họ lại buộc phải ở thêm hạn khác, cho đến khi chết gục ở đấy bên những gốc cao su, nếu không tìm cách chạy trốn. Việc mộ phu là một sự mua bán nô lệ không hơn không kém” [38, tr. Chừng ấy những chính sách bóc lột của thực dân Pháp đổ lên đầu nhân dân Việt Nam, nặng nề nhất là người nông dân, đủ thấy đời sống nông dân khổ cực thế nào dưới thời Pháp thuộc.
Và thân phận tủi nhục của người nông dân dưới ách đế quốc đã làm thổi bùng lên ngọn lửa căm phẫn của họ đối với đế quốc. Mâu thuẫn ấy không thể điều hòa mà ngày càng gay gắt khi thực dân Pháp không ngừng tiến hành những chính sách bóc lột mới, càng ngày càng đẩy nông dân vào vòng khổ cực. Đó chính là động lực để người nông dân đứng dậy đấu tranh chống đế quốc, vừa là để giành độc lập cho dân tộc, vừa là để đòi lại quyền lợi chính đáng cho giai cấp mình. Nhận xét về mối quan hệ giữa nông dân Việt Nam với đế quốc, đồng chí Lê Duẩn viết: “Trước hết phải nhận rằng nước ta là một nước thuộc địa, nghĩa là một nước bị tư bản thực dân áp bức bóc lột.
Đại bộ phận nhân dân lao động ở thuộc địa là nông dân (90%), tư bản thực dân tất nhiên bóc lột sức lao động của quần chúng nông dân nhiều hơn hết.