CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH 1. Khái niệm về du lịch Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, cho đến nay, nhận thức về du lịch vẫn chưa thống nhất; do bối cảnh nghiên cứu khác nhau, nên cách hiểu về du lịch cũng khác nhau. Theo Luật Du lịch Việt Nam, được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005 “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Mục 1, điều 4 Luật Du lịch Việt Nam).
Các khái niệm du lịch đưa ra các tác giả hầu hết đều xuất phát từng đặc điểm di chuyển của khách du lịch để định nghĩa. Nhìn chung việc đưa ra một định nghĩa đồng nhất và đầy đủ về du lịch gặp nhiều khó khăn. Mặc dù vậy nếu căn cứ vào sự phân tích trên, có thể thấy khái niệm du lịch bao hàm các nội dung sau: Thứ nhất, đôi với với khách du lịch, du lịch có các tính nhất như: Tính chất tạm thời của việc di chuyển; Tính chất phi lợi nhuận (không vì mục tiêu kiếm sống). Thứ hai, đối với các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch,du lịch là một hoạt động kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận kinh tế.
Thứ ba, đối với chính quyền nơi du lịch, du lịch là một nhân tố phát triển kinh tế lãnh thổ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thứ tư, đối với cộng đồng dân cư địa phương, du lịch là cơ hội tìm việc làm, tạo thu nhập. Theo tác giả du lịch chính là sự tổng hợp của những quan hệ tương hỗ của 4 nhóm đó trong quá trình thu hút và phục vụ khách du lịch. Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là phải quản lý 4 nhóm đối tượng nghiên cứu này.
Đặc điểm ngành du lịch Ngành du lịch so với các ngành kinh tế khác có các đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp; hoạt động có tính tổng hợp; sản phẩm và dịch vụ du lịch là sản phẩm của sự phối hợp liên ngành và phải được khách du lịch chấp nhận. Thứ hai, ngành du lịch chủ yếu là một ngành dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu khách du lịch. Hoạt động kinh doanh du lịch phải mềm dẻo nhằm phục vụ khách hàng và thúc đẩy khách du lịch tiêu thụ các dịch vụ một cách có hiệu quả nhất. 4 Thứ ba, ngành du lịch mang tính thời vụ; biểu hiện ở thời gian hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao tại một số thời gian “trong năm, dưới tác động của một số yếu tố xác định, có yếu tố mang tính tự nhiên, có yếu tố mang tính kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ thuật, có yếu tố mang tính tâm lý vv”.
Sự tác động nhiều mặt của tính thời vụ trong du lịch cho nên đòi hỏi các cơ quan QLNN, cũng như các doanh nghiệp kinh doanh du lịch phải có phương pháp thích hợp trong hoạt động, nhằm hạn chế những tác động bất lợi nêu trên trong toàn ngành và các cơ sở trực thuộc. Thứ tư, ngành du lịch mang tính quốc tế: “Cùng với sự phát triển không ngừng của du lịch quốc tế, ngành du lịch tìm mọi cách để thu hút khách nước ngoài tới du lịch đã trở thành mối quan tâm” hàng đầu của nhiều nước trên thế giới. Thứ năm, ngành du lịch mang tính nhạy cảm. Ngành du lịch có tính nhạy cảm cao hơn so với các ngành kinh tế khác.
Hoạt động du lịch chịu tác động và ảnh hưởng của nhiều nhân tố như trình độ tổ chức, trình độ hoạt động kinh doanh, “phối hợp giữa các bộ phận có liên quan; các yếu tố thiên nhiên, chính trị, kinh tế và xã hội, vv. đều có thể ảnh hưởng đối với ngành du lịch, dẫn tới sự đình đốn của du lịch.” Thứ sáu, ngành du lịch mang tính phụ thuộc. Sự phát triển du lịch của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là tài nguyên du lịch; Ngành du lịch còn “phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân. Việc thu hút nguồn khách quốc tế cũng như nguồn khách du lịch nội địa được quyết định bởi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia, hoặc khu vực.
Mặt khác ngành du lịch còn phụ thuộc vào sự hợp tác toàn diện, sự phát triển hợp lý giữa” các ngành, nghề có liên quan tới du lịch. Vị trí, vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân Hiện nay ở nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch có vai trò quan trọng và trong phạm vi toàn cầu, du lịch có thể coi là một ngành không có đối thủ. - Vai trò của du lịch về kinh tế: Du lịch có vai trò rất rõ nét đến nền kinh tế của mỗi quốc gia “thông qua việc tiêu dùng của du khách. Thông qua việc tiêu dùng du lịch, du lịch tác động mạnh đến lĩnh vực lưu thông, và do đó gây ảnh hưởng lên những lĩnh vực khác của quá trình tái sản xuất xã hội.
Du lịch đòi hỏi số lượng lớn vật tư và hàng hoá đa dạng chất lượng cao cả về hình thức và nội dung; kích thích mạnh mẽ các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là” nông nghiệp, công nghiệp chế biến. - Vai trò của du lịch về chính trị: Du lịch là cầu nối hoà bình giữa các dân tộc trên thế giới. Hoạt động du lịch giúp cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn, hiểu biết hơn “về đất nước, con người, lịch sử truyền thống dân tộc, về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của các nước đến thăm. Tuy nhiên, du lịch tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực về mặt an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Du lịch là con đường mà các th ế 5 lực phản động thường lợi dụng để tuyên truyền, kích động, đội lốt du khách, có những kẻ đã xâm nhập sâu vào nước đến để móc nối, xây dựng cơ sở." - Vai trò của du lịch về văn hoá - xã hội: Du lịch là một hình thức quan trọng để các dân tộc giao lưu văn hoá với nhau. “Sự văn minh trong nền văn hoá nhân loại đã kích thích sự phát triển nét độc đáo của văn hoá dân tộc. Văn hoá dân tộc phát triển góp phần làm phong phú, đa dạng nền văn hoá nhân loại, nâng cao trí thức của con người. Du lịch là điều kiện để mọi người hiểu nhau hơn, tình đoàn kết cộng đồng được tăng thêm; đời sống văn hoá tinh thần của con người trở nên phong phú hơn.” Vai trò của du lịch về môi trường: Việc tiếp xúc, với thiên nhiên, được cảm nhận sự hùng vĩ, trong lành, cảnh đẹp nên thơ của các phong cảnh tự nhiên có ý nghĩa to lớn với khách; “bằng thực tiễn phong phú, du lịch sẽ góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục môi trường, một vấn đề toàn thế giới đang hết sức quan tâm; nhu cầu du lịch nghỉ ngơi tại những khu vực có nhiều cảnh quan thiên nhiên đã kích thích việc tôn tạo, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên để điểm du lịch ngày càng hấp dẫn khách.
Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch 1. Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch (TNDL) là cảnh quan thiện nhiên, công trình, di tích lịch sử văn hóa.có khả năng thu hút khách du lịch (Pháp lệnh Du lịch). Theo Pirojnik “ TNDL là “Tài nguyên du lịch là tổng thệ tự nhiên, văn hoá và lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật cho phép.” TNDL có thể chia làm hai nhóm: - Tài nguyên du lịch tự nhiên: là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên. Tài nguyên du lịch tự nhiên chính là điều kiện cơ bản, quan trọng của hoạt động du lịch bao gồm: Địa hình, Khí hậu, Nguồn nước, Động, thực vật.
- Tài nguyên du lịch nhân văn: là các đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo; “là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hoá khác bao gồm: Các di tích lịch sử - văn hoá - kiến trúc; Các lễ hội: lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân; Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học: mỗi dân tộc đều có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định; Các đối tượng” văn hoá - thể thao và 6 hoạt động nhận thức khác, thu hút khách với mục đích tham quan, “nghiên cứu, để thưởng thức các giá trị văn hoá của đất nước mà họ đến thăm một cách sống động." "Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt. Quy mô, tính chất, sức hấp dẫn và tính mùa vụ của hoạt động du lịch trên một vùng lãnh thổ được xác định trên cơ sở khối lượng, tính chất và mức độ giá trị của nguồn tài nguyên du lịch. Các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội - Dân cư và lao động: Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội, “và đây cũng chính là nguồn nhân lực lao động trong du lịch và các lĩnh vực hoạt động sản xuất và dịch vụ gắn liền trực tiếp với kinh tế du lịch. Đồng thời, cũng chính họ lại là nguồn khách du lịch." - Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế: “Sự phát triển nền sản xuất xã hội có tác dụng trước hết làm xuất hiện nhu cầu du lịch và mở rộng những nhu cầu du lịch, cũng như làm ra đời hoạt động du lịch, và sau đó chi phối sự phát triển của hoạt động du lịch." - Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch: đó là nhu cầu về hồi phục sức khoẻ và khả năng lao động, “về sự phát triển toàn diện thể chất và tinh thần của con người.