Tổng quan nghiên cứu

Huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn sở hữu diện tích tự nhiên 804 km² cùng quy mô dân số khoảng 112 nghìn người, đóng vai trò là cửa ngõ phía Tây Nam kết nối tỉnh Lạng Sơn với các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Bắc Giang và Thái Nguyên. Nằm cách thành phố Lạng Sơn 75 km, địa phương sở hữu nguồn tài nguyên sinh thái và văn hóa phong phú với khu rừng đặc dụng Hữu Liên quy mô 10.000 ha cùng hệ thống di tích tâm linh lâu đời như đền Bắc Lệ, đền Quan Giám Sát và lễ hội Trò Ngô được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Mặc dù khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 34% tổng sản phẩm GRDP vào năm 2018, hoạt động du lịch tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn khiến hiệu quả khai thác chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng bộ máy quản lý và chuỗi cung ứng dịch vụ giai đoạn 2014 - 2018, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch đến năm 2023, định hướng đến năm 2030. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu đóng góp trực tiếp vào việc tái cơ cấu kinh tế địa phương, nâng cao năng suất lao động dịch vụ từ mức 295,63 triệu đồng năm 2014 lên mức cao hơn và gia tăng giá trị GRDP toàn ngành. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế, tối ưu hóa quy hoạch không gian 02 trục du lịch tâm linh và sinh thái, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động và bảo tồn bền vững cảnh quan tự nhiên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Lý thuyết Kinh tế Du lịch làm nền tảng học thuật cốt lõi. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò bàn tay hữu hình thực hiện 4 chức năng căn bản: định hướng chiến lược, tổ chức thực thi chính sách, điều tiết thị trường và thanh tra giám sát hoạt động kinh doanh. Quá trình phân tích gắn liền với việc cụ thể hóa 5 khái niệm chuyên ngành cốt lõi gồm: Du lịch, Hoạt động du lịch, Quản lý Nhà nước về du lịch, Dịch vụ du lịch và Tài nguyên du lịch tự nhiên - nhân văn.

Khung phân tích thể chế được xây dựng dựa trên việc quán triệt Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 theo Quyết định số 2473/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, các tiêu chí đánh giá môi trường du lịch và chuẩn mực ứng xử được tích hợp chặt chẽ theo Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT cùng Quyết định số 718/QĐ-BVHTTDL, bảo đảm 100% các tiêu chí quản trị công bám sát yêu cầu pháp lý hiện hành.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng trong khung thời gian phân tích từ năm 2014 đến năm 2018. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ 12 báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Văn hóa - Thông tin và Phòng Thống kê huyện Hữu Lũng. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành điều tra thực địa với cỡ mẫu 150 đối tượng thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên. Cấu trúc mẫu khảo sát bao gồm: 30 cán bộ, công chức làm công tác quản lý Nhà nước cấp huyện và cấp xã; 70 chủ cơ sở kinh doanh lưu trú, nhà hàng, điểm tham quan; 50 du khách tại đền Bắc Lệ và khu sinh thái Hữu Liên.

Phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và tổng hợp liên ngành được lựa chọn để xử lý dữ liệu. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này xuất phát từ đặc thù quản lý hành chính công cấp huyện, đòi hỏi phải lượng hóa chính xác các chỉ tiêu kinh tế như tổng sản phẩm GRDP, thu nhập bình quân lao động, đồng thời đánh giá khách quan mức độ phù hợp và hiệu lực thực thi của hệ thống văn bản pháp quy tại địa bàn miền núi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô kinh tế ngành dịch vụ của huyện Hữu Lũng tăng trưởng tích cực nhưng giá trị gia tăng từ du lịch còn hạn chế. Năm 2018, tổng sản phẩm GRDP ngành dịch vụ đạt 10.230 tỷ đồng, tăng gấp 1,61 lần so với mức 6.353 tỷ đồng của năm 2014, chiếm 34% tổng sản phẩm toàn huyện. Thu nhập bình quân đầu người của lao động dịch vụ đạt 396,83 triệu đồng/người/năm vào năm 2018, tăng 34,2% so với mức 295,63 triệu đồng năm 2014.

Thứ hai, sản phẩm du lịch phát triển chủ yếu theo 02 loại hình là du lịch tâm linh và sinh thái cộng đồng nhưng hiệu quả lưu trú rất thấp. Thời gian lưu trú trung bình của du khách tại huyện chỉ đạt khoảng 1,1 đến 1,3 ngày/khách và tỷ lệ du khách quốc tế chỉ chiếm dưới 3% tổng lượng khách đến địa bàn.

Thứ ba, công tác ban hành và thực thi văn bản quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập. Mặc dù huyện đã ban hành nhiều kế hoạch thực hiện Quyết định số 1511/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, bộ máy chuyên trách tại Phòng Văn hóa - Thông tin chỉ có từ 5 đến 7 biên chế phụ trách đa nhiệm vụ. Do đó, khoảng 65% hoạt động kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ du lịch chỉ diễn ra theo đợt cao điểm mùa lễ hội, thiếu tính thường xuyên.

Thảo luận kết quả

Hạn chế trên bắt nguồn từ việc địa phương chưa có bản quy hoạch tổng thể phát triển du lịch dài hạn và nguồn lực tài chính đầu tư cho kết cấu hạ tầng còn phân tán. Khi so sánh với huyện Ba Vì tại Hà Nội, địa phương này đã thu hút 312 doanh nghiệp, tạo việc làm cho 5.400 lao động và đạt doanh thu 770 tỷ đồng giai đoạn 2015 - 2017 nhờ có quy hoạch không gian đồng bộ. Tương tự, mô hình làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn tại huyện Bắc Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn đã thu hút hơn 7.000 lượt khách mỗi năm nhờ đề án đầu tư bảo tồn trị giá hơn 112 tỷ đồng.

Dữ liệu nghiên cứu thực trạng tại Hữu Lũng có thể được trực quan hóa thông qua Biểu đồ cột thể hiện tốc độ tăng trưởng GRDP dịch vụ giai đoạn 2014 - 2018 kết hợp Bảng thống kê phân loại cơ sở lưu trú theo tiêu chuẩn xếp hạng sao. Việc trực quan hóa này làm nổi bật nghịch lý giữa tiềm năng tự nhiên của khu rừng đặc dụng 10.000 ha Hữu Liên và kết quả thu hút nguồn thu thực tế. Thảo luận chỉ ra rằng nếu thiếu sự định hướng và giám sát chặt chẽ từ cơ quan Nhà nước, du lịch địa phương sẽ dễ rơi vào tình trạng khai thác tự phát và suy thoái môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch chi tiết và tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng du lịch. Ủy ban nhân dân huyện Hữu Lũng cần chủ trì xây dựng hoàn thiện Đề án phát triển du lịch huyện giai đoạn 2021 - 2025, định hướng 2030; ưu tiên huy động tổng vốn đầu tư công và xã hội hóa đạt trên 150 tỷ đồng trong giai đoạn 2021 - 2023 để nâng cấp các tuyến đường kết nối tỉnh lộ 340B tới khu sinh thái Hữu Liên và đền Bắc Lệ, phấn đấu nâng thời gian lưu trú bình quân lên 2,0 ngày/khách vào năm 2025.

Thứ hai, củng cố tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ quản lý Nhà nước. Phòng Nội vụ phối hợp cùng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Hữu Lũng triển khai kế hoạch bồi dưỡng giai đoạn 2021 - 2024, bảo đảm 100% cán bộ, công chức làm công tác du lịch được đào tạo chuyên môn và tham gia ít nhất 02 khóa tập huấn quản lý điểm đến mỗi năm.

Thứ ba, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá và ứng dụng chuyển đổi số du lịch. Phòng Văn hóa - Thông tin huyện chủ trì xây dựng cổng thông tin du lịch điện tử và bản đồ số du lịch Hữu Lũng trong giai đoạn 2022 - 2023, đặt mục tiêu thu hút trên 200.000 lượt tiếp cận mỗi năm, đồng thời liên kết tour tuyến với các huyện Bắc Sơn, Chi Lăng và tỉnh Bắc Giang.

Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm tra và kiểm soát môi trường du lịch. Đội kiểm tra liên ngành huyện tiến hành thanh tra định kỳ 100% cơ sở kinh doanh lưu trú, lữ hành và ăn uống; kiểm soát nghiêm việc niêm yết giá, an toàn vệ sinh thực phẩm và xử lý dứt điểm tình trạng chèo kéo khách, bảo đảm giữ vững sinh thái khu rừng đặc dụng 10.000 ha Hữu Liên giai đoạn 2021 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý Nhà nước và chính quyền địa phương cấp huyện, tỉnh. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện miền núi có diện tích trên 800 km² trong việc ban hành chính sách đặc thù, xây dựng quy hoạch không gian và quản lý 100% các khu, điểm di tích tâm linh và danh lam thắng cảnh.

Thứ hai, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, lưu trú và các nhà đầu tư du lịch. Công trình cung cấp bức tranh toàn diện về thị trường dịch vụ chiếm 34% GRDP huyện, giúp các nhà đầu tư nhận diện tiềm năng để triển khai các dự án khách sạn, homestay sinh thái đón đầu danh mục 15 dự án ưu tiên đầu tư của huyện giai đoạn đến năm 2030.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học ngành Quản lý kinh tế và Du lịch học. Luận văn cung cấp nguồn dữ liệu kinh tế chuỗi thời gian 2014 - 2018 phong phú, kết hợp khung phân tích định lượng và bài học thực tế từ 02 mô hình du lịch Ba Vì và Bắc Sơn phục vụ cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu học thuật.

Thứ tư, cộng đồng dân cư và các tổ chức hợp tác xã du lịch địa phương. Tài liệu giúp người dân các xã như Hữu Liên, Yên Thịnh hiểu rõ định hướng quy hoạch của chính quyền, nâng cao nhận thức bảo vệ tài nguyên và chuyển đổi nghề nghiệp sang làm du lịch cộng đồng, góp phần tăng thu nhập bình quân vượt mốc 21,14 triệu đồng/người/năm.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Lợi thế cạnh tranh nổi bật nhất của du lịch huyện Hữu Lũng là gì?
Trả lời: Huyện Hữu Lũng có vị trí giao thông thuận lợi trên trục đường kết nối cách Hà Nội hơn 100 km, sở hữu khu rừng đặc dụng Hữu Liên rộng 10.000 ha và lễ hội Trò Ngô là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Địa phương có thế mạnh vượt trội trong việc phát triển song hành du lịch tâm linh và du lịch sinh thái cộng đồng.

Câu hỏi 2: Vì sao công tác quản lý Nhà nước về du lịch tại địa phương giai đoạn 2014 - 2018 chưa đạt hiệu quả cao?
Trả lời: Nguyên nhân chủ yếu do huyện chưa có bản quy hoạch du lịch tổng thể dài hạn và đội ngũ cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin còn mỏng với chỉ 5 đến 7 biên chế. Thêm vào đó, hạ tầng kết nối chưa hoàn thiện khiến thời gian lưu trú của khách rất ngắn, chỉ đạt khoảng 1,1 đến 1,3 ngày/khách.

Câu hỏi 3: Huyện Hữu Lũng có thể tiếp thu bài học kinh nghiệm nào từ mô hình Ba Vì và Bắc Sơn?
Trả lời: Huyện cần học tập Ba Vì về chiến lược quy hoạch không gian bài bản để thu hút 312 doanh nghiệp và đạt doanh thu 770 tỷ đồng. Đồng thời, Hữu Lũng nên học hỏi mô hình làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn tại Bắc Sơn, nơi đón hơn 7.000 lượt khách mỗi năm thông qua việc hỗ trợ kinh phí và tập huấn cho người dân.

Câu hỏi 4: Khu vực dịch vụ đóng góp như thế nào vào bức tranh kinh tế của huyện Hữu Lũng?
Trả lời: Ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn với 34% tổng sản phẩm GRDP toàn huyện năm 2018. Giá trị sản xuất dịch vụ tăng trưởng từ 6.353 tỷ đồng năm 2014 lên trên 10.200 tỷ đồng năm 2018 (tăng gấp 1,61 lần), giúp thu nhập bình quân lao động ngành này đạt mức cao 396,83 triệu đồng/người/năm.

Câu hỏi 5: Mục tiêu trọng tâm của các giải pháp quản lý Nhà nước giai đoạn 2021 - 2025 là gì?
Trả lời: Mục tiêu cốt lõi là hoàn thiện Đề án phát triển du lịch, huy động hơn 150 tỷ đồng đầu tư hạ tầng giao thông và số hóa quảng bá du lịch để tiếp cận 200.000 lượt du khách. Bên cạnh đó, huyện tập trung chuẩn hóa 100% cán bộ quản lý và bảo tồn hệ sinh thái rừng đặc dụng.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch cấp huyện, bám sát các mục tiêu chiến lược tại Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.
  • Luận văn đánh giá toàn diện thực trạng kinh tế và bộ máy quản lý tại huyện Hữu Lũng giai đoạn 2014 - 2018, chỉ rõ ngành dịch vụ chiếm 34% GRDP nhưng chuỗi cung ứng du lịch còn manh mún.
  • Đúc kết 06 bài học thực tiễn giá trị từ kinh nghiệm phát triển du lịch của huyện Ba Vì với doanh thu 770 tỷ đồng và mô hình làng văn hóa Quỳnh Sơn tại Bắc Sơn đón hơn 7.000 lượt khách/năm.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá thực hiện trong giai đoạn 2021 - 2025, định hướng 2030, trọng tâm là bố trí 150 tỷ đồng nâng cấp hạ tầng và chuẩn hóa 100% công chức quản lý du lịch.
  • Gợi mở định hướng nghiên cứu tiếp theo về đánh giá sức chịu tải môi trường sinh thái và đo lường hiệu quả chuyển đổi số trong quản lý điểm đến du lịch cộng đồng.

Công trình khẳng định nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước là giải pháp then chốt để huyện Hữu Lũng khai phóng tiềm năng khu rừng đặc dụng 10.000 ha Hữu Liên và hệ thống di tích văn hóa tâm linh. Các cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và người dân địa phương cần nhanh chóng triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đưa du lịch Hữu Lũng bứt phá bền vững trong giai đoạn mới.