Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế với đề tài "Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong hội nhập quốc tế" do nghiên cứu sinh Ngô Nguyễn Hiệp Phước thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2018. Công trình đặt trọng tâm vào việc giải quyết mối quan hệ giữa chức năng quản lý kinh tế của chính quyền đô thị trực thuộc Trung ương và sự phát triển của ngành kinh tế du lịch trong bối cảnh toàn cầu hóa và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Về tính cấp thiết, du lịch được xác định là ngành kinh tế dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh, đóng góp tỷ trọng lớn vào quy mô nền kinh tế và tạo nguồn việc làm phong phú. Báo cáo năm 2015 của Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC) chỉ rõ ngành du lịch tạo hàng triệu việc làm và đóng góp hàng nghìn tỷ USD cho tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu. Tại Việt Nam, giai đoạn 2010 - 2017, lượng khách quốc tế tăng từ 5 triệu lên trên 10 triệu lượt mỗi năm; khách nội địa tăng từ 28 triệu lên 73,2 triệu lượt; doanh thu toàn ngành tăng từ 96 nghìn tỷ đồng lên trên 500 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,5% GDP năm 2017. Thành phố Cần Thơ được thành lập đầu năm 2004, giữ vị trí đô thị trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với tiềm năng lớn về du lịch miệt vườn, sông nước, du lịch MICE và di sản văn hóa. Năm 2017, thành phố đón trên 7,5 triệu lượt khách, trong đó khách lưu trú đạt trên 2 triệu lượt (tăng gấp 4 lần so với năm 2006 và tăng 27% so với năm 2016). Tuy nhiên, số ngày lưu trú bình quân còn thấp (đạt 1,5 ngày/khách), chi tiêu du khách hạn chế, sản phẩm du lịch còn trùng lặp, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu. Mặt trái của hội nhập quốc tế như tour du lịch giá 0 đồng, tệ nạn xã hội và ô nhiễm môi trường gia tăng, đòi hỏi chính quyền thành phố phải đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố, đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác này tại thành phố Cần Thơ trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ ra những vấn đề chưa được làm rõ, những khoảng trống nghiên cứu và xác định những nội dung luận án cần tiếp tục làm rõ.
- Phân tích, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về du lịch ở cấp thành phố trực thuộc Trung ương; luận giải đặc thù và nội dung của quản lý nhà nước về du lịch theo ngành kết hợp lãnh thổ.
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch của thành phố Cần Thơ, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu của quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ, đặc biệt là quản lý của chính quyền thành phố Cần Thơ; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về du lịch ở Cần Thơ, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập quốc tế.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong hội nhập quốc tế và luận giải các điều kiện, kiến nghị các cơ quan chức năng hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động quản lý nhà nước ở cấp thành phố trực thuộc Trung ương đối với hoạt động du lịch trên địa bàn, được tiếp cận dưới góc độ quản lý kinh tế trong phạm vi thẩm quyền phân cấp cho chính quyền địa phương. Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Về nội dung: Tập trung vào 6 nội dung quản lý gồm hoạch định phát triển; triển khai cơ chế, chính sách; tổ chức hoạt động du lịch; phát triển kết cấu hạ tầng; hỗ trợ cơ sở kinh doanh; thanh tra, kiểm tra.
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Cần Thơ, có khảo cứu các tỉnh lân cận trong mối liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng từ năm 2010 đến năm 2017, các giải pháp đề xuất định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm lại có hệ thống các công trình nghiên cứu về du lịch và quản lý nhà nước về du lịch ở cả phạm vi quốc tế và trong nước.
Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu lý luận ban đầu tập trung vào bản chất và ý nghĩa kinh tế - xã hội của du lịch. Guer Freuler tiếp cận du lịch dưới góc độ nhu cầu phục hồi sức khỏe và tình cảm đối với thiên nhiên. Picara-Edmod nhấn mạnh bản chất kinh tế thông qua chi phí và túi tiền tiêu dùng của du khách vãng lai. Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) qua Tuyên bố Manila năm 1980 và các định nghĩa chuẩn hóa đã xác lập du lịch là hiện tượng văn hóa, xã hội và kinh tế bắt nguồn từ sự di chuyển ngoài nơi cư trú. Salvo Creaco (2003) phân tích tác động hai mặt của du lịch đối với cán cân thanh toán, thu nhập và môi trường. Lelei Lelaulu xem du lịch là công cụ chuyển giao tài chính tự nhiên từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Priya Chetty khẳng định vai trò của công tác dự báo du lịch. William Theobald (1994) làm rõ tác động thúc đẩy hòa bình của hoạt động du lịch. Iresh Singh (2011) phân chia các loại hình du lịch theo mục đích lữ hành. Robert Lanquar (1993), William S. Reksohadiprodjo, John Ward, Phil Higson và William Campbell (1994) phân tích các cấu phần kinh tế kỹ thuật của ngành công nghiệp du lịch và dịch vụ giải trí. Về khía cạnh quản lý nhà nước, Phutsady Phanyasith (2014, 2016) nghiên cứu biện pháp pháp luật quản lý du lịch tại Lào. S. Medlik (1995) nhấn mạnh việc thiết lập chính sách du lịch thông qua phối hợp công - tư. Sokxay Soutthaveth (2014) và Saknalin Keosi (2013) nghiên cứu kinh nghiệm quản lý du lịch bền vững và khung pháp lý bảo vệ du khách tại Thái Lan. Xu Xeng (2015) đề xuất kiện toàn bộ máy quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra kinh doanh du lịch tại Trung Quốc.
Ở trong nước, các nghiên cứu đã tiếp cận nhiều phương diện chuyên môn khác nhau. Trần Đức Thanh (1999) chuẩn hóa khái niệm du lịch và kinh doanh du lịch. Nguyễn Văn Đính và cộng sự (2006) trong giáo trình Kinh tế du lịch phân loại hoạt động du lịch theo phạm vi lãnh thổ, phương tiện lưu trú, thời gian và mục đích chuyến đi. Nguyễn Đình Sơn (2002) nghiên cứu kinh tế du lịch gắn với an ninh quốc phòng tại Bắc Bộ. Nguyễn Trùng Khánh (2012) phân tích phát triển dịch vụ lữ hành trong hội nhập kinh tế quốc tế. Nguyễn Anh Tuấn (2010) đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam. Hoàng Thị Ngọc Lan (2007), Nguyễn Duy Mậu (2011) nghiên cứu phát triển thị trường du lịch tại các địa bàn cụ thể như Hà Tây, Quảng Ninh và Tây Nguyên. Về góc độ quản lý nhà nước, Nguyễn Tấn Vinh (2008) phân loại nội dung quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh theo giai đoạn, hướng tác động và lĩnh vực chuyên môn. Hoàng Văn Hoan (2002) nghiên cứu quản lý nhà nước đối với lao động du lịch. Hồ Đức Phớc (2010) giải quyết vấn đề quản lý nhà nước đối với kết cấu hạ tầng đô thị du lịch. Bùi Hải Yến (2009) tập trung vào quy hoạch du lịch bền vững. Báo cáo kỹ thuật của Dự án EU hỗ trợ quản lý điểm đến An Giang - Kiên Giang - Cần Thơ xác định 6 trụ cột của du lịch có trách nhiệm.
Từ việc tổng kết các công trình nêu trên, luận án đã xác định những khoảng trống nghiên cứu cụ thể mà văn bản lựa chọn giải quyết:
- Thiếu các công trình làm rõ đặc điểm quản lý nhà nước về du lịch ở cấp thành phố trực thuộc Trung ương gắn với chức năng của cấp thừa hành nhưng được phân cấp thẩm quyền cụ thể theo nguyên tắc quản lý ngành kết hợp lãnh thổ.
- Chưa có nghiên cứu chuyên sâu về nội dung quản lý nhà nước của chính quyền đô thị đối với hoạt động du lịch mang tính liên ngành, liên vùng tại địa bàn giữ vai trò hạt nhân của vùng Đồng bằng sông Cửu Long như Cần Thơ.
- Chưa có công trình phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại thành phố Cần Thơ một cách có hệ thống trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, dựa trên nguồn dữ liệu khảo sát thực chứng quy mô lớn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án tiếp cận quản lý nhà nước theo hệ thống cấu trúc gồm: chủ thể quản lý (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ và cơ quan chuyên môn tham mưu là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các sở ngành); đối tượng quản lý (các hoạt động du lịch và chủ thể tham gia chuỗi dịch vụ du lịch trên địa bàn); mục tiêu quản lý (phát triển du lịch bền vững, gia tăng đóng góp kinh tế - xã hội); công cụ quản lý (chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách, quy chuẩn kỹ thuật).
Mô hình quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố trực thuộc Trung ương được luận giải dựa trên nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành kỹ thuật và quản lý theo vùng lãnh thổ:
- Quản lý theo ngành: Thực hiện sự chỉ đạo chuyên môn thống nhất từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch xuống Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm bảo đảm các tiêu chuẩn, định mức, quy chuẩn ngành lữ hành, lưu trú, hướng dẫn viên.
- Quản lý theo lãnh thổ: Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện quyền quản lý nhà nước toàn diện trên địa bàn hành chính, phối hợp các ngành giao thông, công thương, xây dựng, môi trường, công an để điều hành hoạt động kinh tế du lịch và xử lý các vấn đề liên vùng.
Khung nội dung quản lý nhà nước về du lịch cấp thành phố trực thuộc Trung ương được tác giả xác lập gồm 6 nội dung cơ bản:
- Hoạch định phát triển các hoạt động du lịch (xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể và quy hoạch cụ thể, kế hoạch định kỳ).
- Xây dựng và thực thi cơ chế, chính sách về hoạt động du lịch thuộc thẩm quyền địa phương.
- Tổ chức hoạt động du lịch trên địa bàn (tạo lập tài nguyên du lịch, thiết lập tuyến điểm du lịch, củng cố và sắp xếp doanh nghiệp du lịch).
- Phát triển kết cấu hạ tầng du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật.
- Khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn.
- Kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động du lịch và bảo đảm môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Phương pháp định tính được sử dụng để phân tích văn bản pháp quy, tổng hợp tài liệu thứ cấp, làm rõ các khái niệm, cơ chế vận hành của bộ máy quản lý. Phương pháp định lượng được sử dụng để phân tích dữ liệu thống kê kinh tế - xã hội và xử lý dữ liệu điều tra xã hội học.
Nguồn tư liệu và quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp được tiến hành thông qua điều tra xã hội học tại thành phố Cần Thơ với 3 loại phiếu hỏi, tổng quy mô mẫu sau khi làm sạch đạt 800 phiếu hợp lệ:
| Nhóm đối tượng điều tra |
Quy mô mẫu (phiếu) |
Nội dung thông tin khảo sát |
| Du khách quốc tế |
100 |
Nhu cầu, mục đích chuyến đi, mức độ hài lòng về điểm đến, dịch vụ lưu trú, thủ tục |
| Du khách nội địa |
200 |
Chi tiêu, số ngày lưu trú, nguồn tiếp cận thông tin, đánh giá hạ tầng và sản phẩm du lịch |
| Các bên liên quan tại địa phương |
500 |
Đánh giá công tác quản lý nhà nước, chính sách hỗ trợ, môi trường kinh doanh và trật tự an toàn |
| Tổng cộng |
800 |
Xử lý bằng phần mềm SPSS và phân tích nhân tố khám phá (EFA) |
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê của Tổng cục Du lịch, Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cần Thơ giai đoạn 2006 - 2017. Các dữ liệu khảo sát được mã hóa, nhập liệu và phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá (EFA) trên phần mềm SPSS.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thành các nhóm chủ đề: khái niệm, vai trò, tác động của hoạt động du lịch; kinh tế du lịch và các loại hình du lịch; vai trò, nội dung của quản lý nhà nước đối với du lịch. Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế đã cung cấp cơ sở phương pháp luận sâu sắc về quản lý điểm đến, quản trị công và du lịch bền vững. Các nghiên cứu trong nước đã phác thảo các khía cạnh kinh tế du lịch ở cấp độ quốc gia hoặc tại các tỉnh miền núi, ven biển. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện hoạt động quản lý nhà nước về du lịch tại một đô thị trực thuộc Trung ương có vai trò trung tâm vùng đồng bằng sông nước như Cần Thơ dưới giác độ kết hợp quản lý ngành và lãnh thổ trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đây là căn cứ xác định các vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố trực thuộc Trung ương trong điều kiện hội nhập quốc tế
Chương 2 luận giải các khái niệm cơ bản về du lịch và hoạt động du lịch dựa trên Luật Du lịch năm 2017 và các lý thuyết quản lý kinh tế. Tác giả phân loại các mô hình du lịch tiêu biểu phù hợp với Cần Thơ gồm du lịch miệt vườn, du lịch đô thị, du lịch thương mại - công vụ (MICE), du lịch tham quan di sản văn hóa và du lịch sinh thái. Chương này phân tích tác động hai mặt của hoạt động du lịch đối với sự phát triển kinh tế địa phương: tác động tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, thu hút đầu tư, liên kết vùng; tác động tiêu cực gây áp lực lên hạ tầng, môi trường tự nhiên và an ninh trật tự. Luận án phân tích cấu trúc hệ thống quản lý nhà nước ở cấp thành phố trực thuộc Trung ương (gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các sở ngành liên quan và chính quyền quận, huyện), đồng thời làm rõ 6 nội dung quản lý kinh tế nhà nước. Ngoài ra, chương 2 phân tích kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong nước để rút ra các bài học về quy hoạch, ban hành chính sách hỗ trợ và quản lý trật tự kinh doanh dịch vụ du lịch cho Cần Thơ.
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong hội nhập quốc tế
Chương 3 đi sâu đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, kết cấu hạ tầng và diễn biến hoạt động du lịch tại Cần Thơ giai đoạn 2006 - 2017. Các số liệu cho thấy sự tăng trưởng về lượt khách và cơ sở lưu trú:
| Năm |
Lượng khách đến (nghìn lượt) |
Khách lưu trú (nghìn lượt) |
Doanh thu du lịch (tỷ đồng) |
Số cơ sở lưu trú (cơ sở) |
| 2006 |
500,0 |
480,0 |
210,0 |
115 |
| 2010 |
950,0 |
620,0 |
550,0 |
168 |
| 2015 |
1.624,0 |
1.250,0 |
1.380,0 |
235 |
| 2017 |
> 7.500,0 |
> 2.000,0 |
2.000,0 |
268 |
Qua phân tích 6 nội dung quản lý nhà nước kết hợp với kết quả xử lý 800 phiếu khảo sát, tác giả chỉ ra những thành tựu và hạn chế:
- Kết quả đạt được: Thành phố đã xây dựng "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch thành phố Cần Thơ đến năm 2010 và định hướng đến 2020", ban hành "Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch thành phố Cần Thơ đến năm 2020, định hướng đến 2030"; từng bước kiện toàn bộ máy hành chính; ban hành một số văn bản chính sách thúc đẩy xã hội hóa đầu tư du lịch; kết nối được tuyến du lịch liên tỉnh An Giang - Kiên Giang - Cần Thơ; nâng cấp hạ tầng sân bay quốc tế và các tuyến giao thông trọng điểm.
- Hạn chế: Công tác quy hoạch thiếu tính đồng bộ, việc triển khai quy hoạch chi tiết các khu du lịch còn chậm; chính sách khuyến khích đầu tư kinh doanh du lịch chưa đủ mạnh; sản phẩm du lịch còn trùng lắp, thiếu đặc trưng; thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt 1,5 ngày/khách; mức độ hài lòng về kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch và công tác xúc tiến quảng bá chưa cao; nguồn nhân lực du lịch thiếu tính chuyên nghiệp và ngoại ngữ; sự phối hợp liên ngành giữa các sở, ban, ngành và giữa các địa phương trong vùng còn mang tính hình thức; tình trạng chèo kéo khách, quản lý trật tự tại một số bến tàu du lịch còn lỏng lẻo.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong hội nhập quốc tế
Chương 4 phân tích bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam, xu thế cạnh tranh điểm đến trong khu vực ASEAN và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với phát triển du lịch Cần Thơ. Tác giả xác lập quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển du lịch Cần Thơ đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 theo hướng bền vững, phấn đấu đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp gồm 6 nhóm:
- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác hoạch định phát triển du lịch: Rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể và các quy hoạch phân khu chức năng phù hợp không gian đô thị và tài nguyên sinh thái sông nước; tăng cường tính công khai, minh bạch của quy hoạch.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và phát triển du lịch địa phương: Ban hành chính sách ưu đãi tiếp cận đất đai, giảm thuế, hỗ trợ tín dụng đầu tư cơ sở lưu trú cao cấp (khách sạn 4 - 5 sao); chính sách phát triển kinh tế ban đêm và các sản phẩm du lịch MICE, miệt vườn đặc thù.
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch: Tăng cường phân cấp quản lý giữa thành phố và cấp quận, huyện; đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ kinh tế du lịch, ngoại ngữ, kỹ năng xúc tiến quốc tế cho công chức ngành du lịch.
- Tăng cường đầu tư và huy động nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng du lịch: Nâng cấp đồng bộ hạ tầng giao thông đường thủy, bến tàu du lịch, hệ thống giao thông kết nối các cồn, bãi; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp thông tin du lịch và quản lý cơ sở lưu trú.
- Đổi mới công tác tổ chức, xúc tiến quảng bá và phát triển nguồn nhân lực du lịch: Liên kết với Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng Tây Nam Bộ hình thành chuỗi sản phẩm liên vùng; xã hội hóa hoạt động xúc tiến du lịch; phối hợp với các trường đại học đào tạo kỹ năng nghề cho lao động du lịch.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thị trường và giữ gìn môi trường du lịch: Thiết lập đường dây nóng hỗ trợ du khách; chấn chỉnh hiện tượng chèo kéo, nâng giá ép khách; kiểm soát các tour giá rẻ không bảo đảm chất lượng; giám sát việc bảo vệ tài nguyên môi trường tại các điểm du lịch miệt vườn.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án của nghiên cứu sinh Ngô Nguyễn Hiệp Phước có các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn sau:
Về mặt lý luận:
- Góp phần hệ thống hóa, bổ sung cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở cấp thành phố trực thuộc Trung ương trong điều kiện hội nhập quốc tế.
- Luận giải rõ đặc điểm của mô hình quản lý kết hợp giữa quản lý ngành kỹ thuật và quản lý theo lãnh thổ; xác lập khung phân tích 6 nội dung quản lý kinh tế nhà nước về du lịch áp dụng cho chính quyền cấp thành phố.
- Rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn từ công tác quản lý du lịch tại các tỉnh, thành phố trong nước đối với việc quản lý du lịch đô thị hạt nhân vùng đồng bằng.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện, cập nhật về thực trạng hoạt động du lịch và thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ từ năm 2010 đến 2017.
- Xây dựng và công bố bộ dữ liệu sơ cấp thu thập từ 800 phiếu điều tra xã hội học hợp lệ đối với 3 nhóm chủ thể (du khách quốc tế, du khách nội địa, các bên liên quan tại địa phương), được phân tích qua phần mềm SPSS và kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA).
- Chỉ rõ những thành tựu đạt được, các hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân sâu xa từ công tác chỉ đạo, ban hành chính sách, tổ chức bộ máy và đầu tư hạ tầng của chính quyền thành phố Cần Thơ.
- Đề xuất hệ thống phương hướng, giải pháp và khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm đổi mới quản lý nhà nước về du lịch tại thành phố Cần Thơ đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, phục vụ việc hoạch định cơ chế chính sách của địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tiếp cận đối tượng quản lý nhà nước chủ yếu dưới góc độ quản lý kinh tế và trong phạm vi phân cấp cho chính quyền cấp thành phố trực thuộc Trung ương. Do đó, các khía cạnh quản lý chuyên sâu ở cấp cơ sở (quận, huyện, xã, phường) cũng như các quy định kỹ thuật mang tính hành chính - tư pháp chuyên biệt chưa được phân tích chi tiết. Mặt khác, phạm vi khảo sát thực địa và dữ liệu điều tra chỉ giới hạn tập trung tại thành phố Cần Thơ và một số điểm kết nối du lịch lân cận, nguồn số liệu thứ cấp phản ánh thực trạng kết thúc ở mốc thời gian năm 2017.
Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá hiệu quả thực tế của công tác triển khai "Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch thành phố Cần Thơ đến năm 2020, định hướng đến 2030" sau giai đoạn 2018. Bên cạnh đó, việc phân tích sâu hơn tác động của chuyển đổi số, kinh tế số và trí tuệ nhân tạo đối với hoạt động quản lý các dịch vụ du lịch thông minh tại đô thị trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long là hướng đi cần thiết để tiếp tục hoàn thiện lý luận và thực tiễn quản lý kinh tế du lịch.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ nét cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Kinh tế du lịch: Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng, cách thức thiết kế bảng hỏi khảo sát xã hội học đa nhóm đối tượng, phương pháp xử lý số liệu điều tra bằng SPSS và EFA trong phân tích quản lý nhà nước cấp địa phương.
- Đối với chính quyền thành phố Cần Thơ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cần Thơ: Các phát hiện từ 800 phiếu khảo sát và hệ thống 6 nhóm giải pháp ở Chương 4 là căn cứ thực tế giá trị để rà soát quy hoạch, sửa đổi các chính sách ưu đãi đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh du lịch và nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến.
- Đối với các cơ sở đào tạo, trường đại học, cao đẳng: Nội dung luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các học phần Quản lý kinh tế ngành dịch vụ, Quản lý nhà nước về du lịch và biên soạn tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ công chức địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Luận án tiếp cận du lịch dưới giác độ nào trong phạm vi quản lý kinh tế của chính quyền địa phương?
Luận án tiếp cận du lịch như một loại hoạt động kinh tế đặc thù, bao gồm tổng hòa các hoạt động lữ hành, lưu trú, vận chuyển và các dịch vụ hỗ trợ du khách. Quản lý nhà nước ở đây là sự tác động có tổ chức của chính quyền thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi thẩm quyền phân cấp, nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và định hướng ngành du lịch phát triển bền vững theo các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Mẫu khảo sát xã hội học của đề tài được phân bổ như thế nào và xử lý bằng công cụ gì?
Nghiên cứu tiến hành điều tra với 3 loại phiếu hỏi, thu được 800 phiếu hợp lệ sau khi làm sạch. Cụ thể: 100 phiếu dành cho du khách nước ngoài, 200 phiếu dành cho du khách trong nước, và 500 phiếu dành cho 4 nhóm đối tượng gồm cơ sở kinh doanh du lịch, công chức quản lý nhà nước địa phương, chuyên gia nghiên cứu du lịch và người dân tại thành phố Cần Thơ. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng SPSS và sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA).
Tại sao luận án nhấn mạnh mô hình quản lý kết hợp giữa ngành và lãnh thổ tại Cần Thơ?
Bởi vì hoạt động du lịch có tính liên ngành và liên vùng sâu sắc. Quản lý theo ngành bảo đảm việc chấp hành thống nhất các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên môn do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành. Trong khi đó, quản lý theo lãnh thổ giúp Ủy ban nhân dân thành phố chủ động kết nối quy hoạch hạ tầng, huy động nguồn lực địa phương, liên kết chuỗi sản phẩm với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và quản lý an ninh trật tự, vệ sinh môi trường trên địa bàn đô thị trung tâm.
Những điểm nghẽn chính trong hoạt động du lịch Cần Thơ được chỉ ra là gì?
Các dữ liệu trong luận án cho thấy thời gian lưu trú bình quân của du khách tại Cần Thơ chỉ đạt 1,5 ngày/khách; mức chi tiêu còn thấp; sản phẩm du lịch còn mang tính trùng lặp, thiếu khác biệt so với các tỉnh lân cận; cơ sở hạ tầng bến bãi đường thủy và cơ sở lưu trú chất lượng cao còn hạn chế; đội ngũ nhân lực còn thiếu kỹ năng ngoại ngữ và tác phong chuyên nghiệp; tình trạng ô nhiễm môi trường và cạnh tranh không lành mạnh chưa được xử lý triệt để.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong hội nhập quốc tế" của tác giả Ngô Nguyễn Hiệp Phước đã xây dựng thành công khung phân tích lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch cấp thành phố trực thuộc Trung ương theo cơ chế kết hợp giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng với nguồn dữ liệu sơ cấp 800 mẫu điều tra được xử lý qua phần mềm SPSS và phân tích EFA, luận án đã đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng hoạt động du lịch và công tác quản lý của chính quyền thành phố Cần Thơ giai đoạn 2010 - 2017. Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn và thời cơ trong bối cảnh hội nhập quốc tế, công trình đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và các khuyến nghị chính sách có giá trị thực tiễn cao, hướng tới mục tiêu đưa du lịch Cần Thơ phát triển bền vững và đóng vai trò trung tâm lan tỏa cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.