Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Hiện nay, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy, nhiều nhà khoa học và tổ chức xã hội của các nước trên thế giới và Việt Nam đã có những nghiên cứu chuyên sâu về du lịch và QLNN về du lịch. Những công trình khoa học đó được đăng tải dưới các hình thức như: đề tài khoa học, luận án tiến sỹ, sách, bài tạp chí, bài báo chuyên ngành. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DU LỊCH VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH Ở NƯỚC NGOÀI 1.
Các công trình nghiên cứu về du lịch ở nước ngoài 1. Về quan niệm, ý nghĩa và tác động của hoạt động du lịch Ở các nước phát triển, việc nghiên cứu về du lịch được quan tâm và tiến hành từ lâu. Chính vì thế, khi bàn về du lịch, có rất nhiều quan điểm nói về ý nghĩa và tác động của HĐDL. Theo quan điểm của Guer Freuler, du lịch với ý nghĩa hiện đại là một hiện tượng của thời đại, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên [59, tr.
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara -Edmod cũng chỉ ra ý nghĩa của HĐDL, khi cho rằng: Du lịch là việc tổng hòa việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí [59, tr. Những học giả Trung Quốc nghiên cứu về du lịch cũng có chung quan điểm với hai giáo sư trên nêu ra, họ đưa ra nhận định: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hợp tất cả các quan hệ và hiện tượng do việc 9 lữ hành để thỏa mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa nhưng lưu động chứ không định cư mà tạm thời cư trú của mọi người dẫn đến [59, tr. Từ các quan điểm trên, có thể thấy HĐDL là tổng hợp của nhiều hoạt động, bao gồm các hoạt động lữ hành, lưu trú và các hoạt động khác phục vụ cho nhu cầu khác nhau của du khách.
HĐDL sẽ giúp du khách khôi phục sức khỏe, phát sinh và phát triển tình cảm với vẻ đẹp thiên nhiên, nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa. Thông qua HĐDL sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội (KT-XH) địa phương. Năm 1980, tại Hội nghị Manila, Tổ chức Du lịch Quốc tế đã chỉ ra ý nghĩa của HĐDL, khi cho rằng: Việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích không phải di cư và một cách hòa bình, hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển cá nhân về phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và sự hợp tác giữa mọi người [33, tr. Còn theo Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hiệp quốc (UNWTO) cho rằng du lịch là một hiện tượng xã hội, văn hóa và kinh tế phát sinh do sự di chuyển tới các quốc gia hay điểm đến ngoài nơi cư trú thường xuyên của con người với các mục đích cá nhân, hoặc do nhu cầu công việc, chuyên môn [11, tr.
Từ đó, ta có thể thấy rằng, HĐDL có ý nghĩa về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần, đẩy mạnh sự hiểu biết và sự hợp tác giữa mọi người. Nhiều nhà khoa học đã khẳng định HĐDL là hoạt động tổng hợp và phát triển nhanh với kết quả kinh tế, xã hội và chính trị. Giao lưu văn hóa, hòa bình, thiện chí và hiểu biết được coi là những tác động tích cực của các luồng du lịch quốc tế. Các điểm thu hút tự nhiên, văn hóa, vị trí địa lý, hệ thống giao thông thuận lợi, sự an toàn xã hội và an ninh chính trị ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch du lịch và đích đến.
An ninh chính trị và an toàn xã hội cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phát triển HĐDL [91]. Bàn về ý nghĩa của HĐDL, Salvo Creaco (2003) cho rằng: Du lịch bây giờ là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thế giới và là một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh nhất. Đối với nhiều quốc gia, du lịch được 10 coi là một công cụ chính cho sự phát triển vì nó kích thích các hoạt động kinh tế mới. Du lịch có thể có tác động tích cực về kinh tế đối với cán cân thanh toán, về việc làm, thu nhập và sản xuất, nhưng cũng có thể có những tác động tiêu cực, đặc biệt đối với môi trường [88].
Lelei Lelaulu - Chủ tịch Đối tác quốc tế thì khẳng định: HĐDL là phương tiện chuyển giao của cải tự nhiên lớn nhất từ các nước giàu sang các nước nghèo… Khoản tiền do du khách mang lại cho các khu vực nghèo khổ còn lớn hơn viện trợ chính thức của các chính phủ [95]. Khi dự báo phát triển du lịch, Priya Chetty khẳng định: Dự báo phát triển du lịch có giá trị kinh tế lớn đối với cả khu vực công và khu vực tư nhân. Bất kỳ thông tin liên quan đến sự tiến triển trong tương lai của dòng chảy du lịch là rất quan trọng đối với khách sạn, nhà điều hành tour du lịch và các ngành công nghiệp khác liên quan đến du lịch [98]; Tác giả William Theobald (1994) làm rõ ý nghĩa của HĐDL đối với hòa bình thế giới [108]. Tác giả đã làm rõ HĐDL thúc đẩy nền hòa bình, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau.
Về các loại hình du lịch Theo kết quả của các nhà nghiên cứu, tùy theo mục đích của du khách mà có thể phân loại thành nhiều hình thức du lịch khác nhau. Tác giả Iresh Singh (2011) cho rằng du lịch đề cập đến việc kinh doanh cung cấp chỗ ở và các dịch vụ liên quan cho những người đến thăm các điểm đến. Du lịch bao gồm hai yếu tố là hành trình tới đích và ở. Theo đó, các loại hình du lịch được kể đến bao gồm: du lịch giải trí, du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch dân tộc, du lịch văn hóa, du lịch mạo hiểm, du lịch chữa bệnh, du lịch tôn giáo, du lịch âm nhạc, du lịch làng, du lịch sinh vật hoang dã [90].
Ngoài ra, còn có các bài viết khác cũng bàn về các loại hình du lịch như: du lịch mạo hiểm, du lịch kinh doanh, du lịch sinh nở, du lịch ẩm thực, du lịch văn hóa, du lịch đen, du lịch thiên tai, du lịch ma túy, du lịch y tế, du lịch gia phả, du lịch biển, du lịch tình dục, du lịch khu ổ chuột, du lịch không gian, du lịch thể thao, du lịch ảo, du lịch chiến tranh [103], [105]. 11 Theo UNWTO, tùy thuộc vào nguồn lực sẵn có của điểm đến để đa dạng hóa và cung cấp nhiều hơn một loại hình du lịch. UNWTO đưa ra một số giải thích ngắn gọn về các loại hình du lịch chính như du lịch giải trí, du lịch y tế, du lịch giáo dục, du lịch kinh doanh, du lịch thăm bạn bè hoặc người thân, du lịch tôn giáo, du lịch thể thao [109]. Ngoài ra, các công trình khác cũng đề cấp đến một vài loại hình du lịch theo các cách khác như: du lịch giải trí, du lịch văn hóa [105], du lịch sinh thái (DLST) [4], du lịch kinh doanh [104], du lịch y tế [106], du lịch giáo dục [99].
Về hoạt động kinh tế du lịch và sự phát triển du lịch Các công trình nghiên cứu về hoạt động kinh tế du lịch đã giúp người đọc hiểu về ngành công nghiệp du lịch. Bàn về hoạt động kinh tế du lịch, theo tác giả Robert Lanquar (1993) kinh tế du lịch đó là ngành công nghiệp vì toàn bộ hoạt động nhằm khai thác các của cải của du lịch, nhằm biến các tài nguyên nhân lực, tư bản và nguyên liệu thành dịch vụ và sản phẩm. Đồng thời, tác giả cũng giới thiệu những vấn đề về yêu cầu, sự tiêu dùng của du lịch, sản xuất phục vụ du lịch, đầu tư cho du lịch [45]. Trong nghiên cứu The Economics of Tourism, tác giả William S.
Các tác giả John Ward, Phil Higson và William Campbell (1994) trong nghiên cứu Leisure and Tourism, đã nghiên cứu về ngành công nghiệp du lịch và giải trí thông qua việc phân tích các hình mẫu và xu hướng, các sản phẩm và dịch vụ trong ngành du lịch và giải trí cũng như các tác động của nó đến kinh tế, xã hội, văn hóa hay môi trường [93]. Công trình Tourism in Developing Countries, các tác giả tập trung bàn về sự phát triển du lịch ở các nước đã và đang phát triển. Bên cạnh đó, công trình này còn đề cập đến mối liên hệ giữa chính phủ và du lịch, các mô hình 12 phân tích phát triển du lịch, các phương pháp đo lường phát triển du lịch quốc tế, sự phát triển các điểm đến du lịch như khu nghỉ mát ven đồi hay ven biển, các khu du lịch vùng ngoại ô [96]. Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch ở nước ngoài 1.
Về vai trò và nội dung quản lý nhà nước về du lịch Phutsady Phanyasith (2014), trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tác giả cho rằng Quản lý nhà nước đối với HĐDL là phương thức nhà nước sử dụng pháp luật tác động vào đối tượng HĐDL để định hướng hoạt động này vận động, phát triển đạt được mục đích xác định [37]. Susan (1996) khi phân tích nguồn gốc của ngành thương mại giải trí và du lịch, đã miêu tả về ngành thương mại giải trí và du lịch; miêu tả sứ mệnh của ngành này; giải thích sự khác biệt giữa sản phẩm và dịch vụ; giới thiệu những địa điểm mà thương mại giải trí và du lịch có thể diễn ra; giới thiệu các cơ hội nghề nghiệp cho các ứng viên tốt nghiệp ngành này. Trên cơ sở đó, tác giả làm rõ vấn đề quản lý và tổ chức sự kiện, lưu trú, thực phẩm và đồ uống, nghề nghiệp [102]. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả S.
Về quản lý nhà nước về du lịch S.