phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục; nội dung của đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động du lịch cộng đồng. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc về du lịch cộng đồng tại các huyện phía Bắc, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc về du lịch cộng đồng tại các huyện phía Bắc, tỉnh Bình Định. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến đề tài: Hình thức du lịch cộng đồng đã đƣợc nghiên cứu rất nhiều trên thế giới và Việt Nam, sau đây tác giả xin trình bày một số công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động du lịch cộng đồng phù hợp với khu vực mà đề tài nghiên cứu thực hiện.
Trên Thế giới Hoạt động du lịch cộng đồng đã đƣợc thế giới phát triển từ những năm 70 của thế kỷ XX, trong đó cộng đồng địa phƣơng sẽ hỗ trợ khách du lịch khám phá Làng, Bản, trải nghiệm văn hóa bản địa, phong tục – tập quán cộng đồng địa phƣơng, lễ hội – nghi lễ của cộng đồng ở những khu vực điều kiện kinh tế - xã hội rất khó khăn. Từ đây, các công trình nghiên cứu về hoạt động khám phá – trải nghiệm của du khách với sự tham gia và hỗ trợ từ dân cƣ bản địa đã đƣợc thực hiện. Qua đó, nhiều nhà nghiên cứu đã thực hiên, công bố một số kết quả nghiên cứu về hình thức du lịch này; Cụ thể nhƣ Quy hoạch du lịch của G.Raynouard; Tourism: A community Approach của Peter E.Murphy (1986), Nhà xuất bản Routledge… Các tác phẩm này đã hình thành nên những khai niệm, đánh giá ban đầu về hoạt động du lịch liên quan đến cộng đồng dân cƣ địa phƣơng. Các nhà nghiên cứu trên chủ yếu thực hiện bằng phƣơng pháp tiếp cận về du lịch sinh thái, du lịch có sự hỗ trợ và trợ giúp từ cộng đồng địa phƣơng nơi đến.
Trên cơ sơ này, những ý tƣởng, sáng kiến đã đƣợc đề xuất triển khai nhằm mang lại lợi ích cho dân cƣ bản địa trong việc tham gia và xây dựng các sản phẩm du lịch dựa vào nguồn tài nguyên du lịch vốn có và đặc trƣng của địa phƣơng. Và đây chính là tiền đề quan trọng, trong việc hình thành, xây dựng và phát triển thêm các loại hình cũng nhƣ sản phẩm du lịch riêng biệt từ nguồn tài nguyên du lịch đặc trƣng của cộng đồng dân cƣ và địa phƣơng. Có thể nhận thấy từ các tác phẩm trên đƣợc các nhà nghiên cứu tổng hợp từ thực tiễn hoạt động; và tiến hành đánh giá các nhân tố, nguyên nhân, hạn chế, và các yếu tố trực tiếp tác động đến kết quả của hoạt động này. Bên cạnh đó là lợi ích tối đa cho cƣ dân bản địa khi tham gia vào mô hình du lịch này.
Qua đó, đã đề xuất nhiều phƣơng pháp, mô hình phát triển dành cho các quốc gia, địa phƣơng trong việc bảo tồn tài nguyên tự nhiên và môi trƣờng, 7 khai thác có hiệu quả từ các nguồn tài nguyên du lịch theo hƣớng bền vững và ổn định lâu dài. Ở Việt Nam Đối với hoạt động du lịch có sự tham gia của cộng đồng dân cƣ tại Việt Nam mới chỉ đƣợc phát triển mạnh trong những năm gần đây với rất nhiều hình thức khác nhau; Bƣớc đầu đã mang lại những hiệu quả về kinh tế - xã hội rõ rệt cho cộng đồng dân cƣ địa phƣơng. Về các nghiên cứu, cũng đƣợc thực hiện và công bố trên nhiều phƣơng diện khác nhau; Từ các hội thảo chuyên đề về du lịch cộng đồng đã đƣợc triển khai liên tục trên khắp cả nƣớc. Dƣới đây, tác giả sẽ điểm qua một số tác phẩm, công trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ sau: - Giáo trình Du lịch cộng đồng – Lý thuyết và vận dụng của TS.
Võ Quế (2006), Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 2006; Đây là tác phẩm đã đề cập rất chi tiết và cụ thể về du lịch cộng đồng. Võ Quế đã tổng hợp và đƣa ra một số cơ sở lý luận quan trọng nhƣ khái niệm về du lịch cộng đồng, mục tiêu phát triển, ý nghĩa của hoạt động du lịch cộng đồng, cũng nhƣ các yếu tố, điều kiện quan trọng trong việc xây dựng và phát triển loại hình du lịch cộng đồng tại Việt Nam. - Giáo trình Tài nguyên du lịch của Ths. Bùi Thị Hải Yến (2012), Du lịch cộng đồng, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Theo đó, tác giả Bùi Thị Hải yến đã tổng quan về hệ thống các cơ sở lý luận liên quan đến tài nguyên du lịch, đề xuất một số mô hình khai thác tài nguyên du lịch tại Việt Nam bền vững và có hiệu quả. - Giáo trình kinh tế du lịch của GS. Nguyễn Văn Đính – TS. Trần Thị Minh Hòa (2006), Nhà xuất bản Lao động xã hội, đã khái quát một số khái niệm cơ bản về du lịch, ảnh hƣởng của du lịch đến kinh tế - xã hội, nội dung về các loại hình du lịch, lĩnh vực kinh doanh du lịch và điều kiện để phát triển du lịch cho các địa phƣơng.
8 Qua các tác phẩm trên, tác giả tổng hợp và rút ra một số vấn đề theo các nghiên cứu đã thực hiện trên nhƣ sau: Hầu hết công trình nghiên cứu của thế giới và Việt Nam đã xác định, phân tích các tài nguyên du lịch đặc trƣng của quốc gia hay địa phƣơng. Đồng thời xây dựng, hoàn thiện và phát triển các loại hình, trong đó chủ yếu du lịch sinh thái trải nghiệm văn hóa – tự nhiên từ sự hỗ trợ và giúp sức của cộng đồng dân cƣ bản địa. Đƣa ra một số đề xuất, giải pháp trực diện nhằm đƣa loại hình du lịch cộng đồng phát triển trong tƣơng lai, đặc biệt phát triển du lịch tại một khu vực cụ thể do cộng đồng thực hiện. Hiện nay, loại hình du lịch này trên lãnh thổ Việt Nam vẫn chƣa đƣợc đánh giá cụ thể, điều này đƣợc thể hiện qua Luật Du lịch (2017) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018 thì du lịch cộng đồng đƣợc định nghĩa nhƣ sau “du lịch cộng đồng là nhằm mục đích bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên thông qua phát triển du lịch, xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn, vùng núi, khu bảo tồn, vườn quốc gia”.
Còn đối với tỉnh Bình Định, hoạt động này cũng chƣa đƣợc quan tâm, chú trọng. Về nghiên cứu thực tiễn, thì đến nay cũng chỉ có một số nghiên cứu về công tác quản lý nhà nƣớc về hoạt động du lịch cộng đồng trên toàn tỉnh. Riêng về hoạt động du lịch cộng đồng tại các khu vực riêng lẽ và cụ thể việc nghiên cứu rất hạn chế; Đặc biệt là những khu vực có điệu kiện phát triển loại hình này nhƣ các huyện phía Bắc, tỉnh Bình Định. Cho nên, công tác quản lý nhà nƣớc và phát triển loại hình này chƣa có những biện pháp, giải pháp mang lại kết quả tối ƣu đối với sự đóng góp của loại hình này cho hoạt động du lịch của tỉnh Bình Định.
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu: Trên cơ sở tiếp thu và vận dụng những kiến thức, nghiên cứu chuyên sâu, nội dung luận văn này tác giả đi thực tế và phân tích chuyên sâu thực trạng phát triển du lịch cộng đồng dựa trên nhƣng đặc trƣng vốn có tại các huyện phía Bắc, tỉnh Bình Định; Từ đó đề ra một số biện pháp hữu hiệu, thực 9 tiễn cho công tác Quản lý nhà nƣớc đối với du lịch cộng đồng nhằm phát huy hết tiềm năng, tạo cơ sở thúc đẩy phát triển hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng địa phƣơng theo đúng quy hoạch, định hƣớng, hoàn thành đƣợc mục tiêu, chỉ tiêu góp phần mở rộng địa điểm du lịch, đa dạng hóa loại hình du lịch, tạo cơ sở cho khách du lịch kéo dài thời gian lƣu trú, hạn chế đƣợc sự thiếu hụt cơ sở lƣu trú cho khách du lịch vào những thời gian cao điểm của mùa du lịch, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và tạo sinh kế ổn định và bền vững cho cộng đồng dân cƣ tại địa phƣơng, từng bƣớc đƣa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1. Khái quát về công tác quản lý nhà nƣớc đối với du lịch cộng đồng: 1. Khái niệm du lịch cộng đồng và công tác quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng: 1.
Một số khái niệm cơ bản: a). Về khái niệm “cộng đồng”: Thuật ngữ “cộng đồng” (community) đã đƣợc tổ chức Liên hiệp quốc (United Nations) đƣa ra những năm 1950 của thế kỷ XX và khuyến khích các quốc gia trên thế giới sử dụng thuật ngữ này để thực hiện trong các chƣơng trình viện trợ của Liên hiệp quốc. Theo Chủ nghĩa Mac-Lenin thì cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, đƣợc quyết định bởi sự giống nhau về lợi ích, mục đích, các điều kiện tồn tại của các thành viên và hoạt động của những con ngƣời hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất… sự gần gủi về tƣ tƣởng, tín ngƣỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất và sự tƣơng đồng về điều kiện sống cũng nhƣ các quan niệm chủ quan của họ về mục tiêu và các phƣơng tiện hoạt động. Theo Keith và Ary (1998), cho rằng: “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh trên cùng khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc cùng một nhóm.
Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một tôn giáo, một tầng lớp chính trị” [55]. Theo tác giả Schuwuk (1990), “Cộng đồng là tập hợp các nhóm người có chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng các tài nguyên ở địa phương” [19]. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2000,tr.601, cộng đồng đƣợc hiểu là “Một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, nghề nghiệp, về địa điểm 11 sinh tụ và cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” [51].
Bùi Thị Hải Yến (2012): “Cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, được gọi tên như làng, xã, huyện, thị, tỉnh, thành phố, quốc gia… có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, truyền thống văn hóa, đặc điểm kinh tế - xã hội” [5].