CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Dịch vụ ngân hàng điện tử và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Một số khái niệm a.
Khái niệm thương mại điện tử Trước khi tiếp cận với khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử, chúng ta cùng tìm hiểu về thương mại điện tử bởi vì dịch vụ ngân hàng điện tử chính là ứng dụng của thương mại điện tử trong lĩnh vực ngân hàng. Thương mại điện tử đã ra đời từ lâu và vẫn đang phát triển vượt bậc. Có rất nhiều khái niệm về TMĐT và mỗi khái niệm này đều có những giá trị nhất định. Theo tài liệu đào tạo về TMĐT của Microsoft (Fundamentals of Ebusiness), có một vài khái niệm sau: - TMĐT là kinh doanh trên môi trường điện tử nhằm kết nối người bán và người mua.
Nó tích hợp dữ liệu, liên lạc điện tử và dịch vụ bảo mật để tạo thuận lợi cho công việc kinh doanh. - TMĐT là một tập hợp công nghệ, ứng dụng và quy trình kinh doanh nhằm liên kết tổ chức, khách hàng và cộng đồng thông qua những giao dịch điện tử và sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thông tin. - Theo công ty TNHH Đầu tư và phát triển phần mềm mạng Việt Nam của Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội, khái niệm: Thương mại điện tử là hình thái hoạt động thương mại bằng phương pháp điện tử, là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua công nghệ điện tử nói chung. Một cách tổng quát, TMĐT có thể được hiểu với một khái niệm tương đối toàn diện là: TMĐT bao gồm tất cả các dạng của giao dịch thương mại của cả cá nhân và tổ chức dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa, bao gồm cả văn bản, âm thanh hoặc hình ảnh.
6 Như vậy, nhờ các phương tiện điện tử, khách hàng không cần trực tiếp đến các chi nhánh ngân hàng vẫn có thể thực hiện được các giao dịch và nắm bắt thông tin tài chính của mình. Ngân hàng điện tử thực sự là một cuộc cách mạng ngân hàng và trở thành xu hướng phát triển mang lại hiệu quả cho hoạt động ngân hàng trong tương lai. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử. Có quan niệm cho rằng dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại Ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới [1].
Theo cách hiểu này, dịch vụ Ngân hàng điện tử chính là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch vụ Ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với Ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã định nghĩa về dịch vụ ngân hàng điện tử là: “Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy cập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử” [2]. Như vậy, qua các khái niệm đã nêu ở trên có thể hiểu dịch vụ ngân hàng điện tử là các dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông. Trong đó, phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tương ứng.
Mạng viễn thông bao gồm mạng internet, mạng điện thoại, mạng vô tuyến, mạng intranet,. Phân loại dịch vụ ngân hàng điện tử 7 Hiện nay ở hầu khắp các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới, các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng điện tử đã phát triển một cách phổ biến, đa dạng và phong phú với mức độ tiện ích ngày càng cao. Tại các nước phát triển, đến thập niên 1960, thẻ ngân hàng và máy rút tiền tự động (ATM) đã xuất hiện và sau đó mạng lưới ATM đã nhanh chóng lan rộng và phổ biến ở hầu khắp các nước; Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Phone Banking) được ra đời vào những năm 1980; Tiếp đến, những năm 1990 là sự ra đời của dịch vụ ngân hàng qua Internet (Internet Banking); Cuối cùng là dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home Banking) và dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (Mobile Banking) xuất hiện từ khi bước sang thiên niên kỷ mới. Tuy mới xuất hiện nhưng những kênh phân phối điện tử này đang ngày càng chứng tỏ vai trò hữu hiệu trong việc giao dịch với khách hàng, cả về không gian, thời gian và mức phí.
Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử có thể được khái quát như sau: a. Dịch vụ trên hệ thống máy rút tiền tự động ATM Máy ATM còn được coi là một địa điểm giao dịch thu nhỏ của ngân hàng. Chỉ cần có tài khoản mở tại ngân hàng, khách hàng sẽ được cấp một thẻ và có mã PIN để sử dụng. Máy ATM không đơn thuần chỉ là nơi khách hàng có thể rút tiền mặt phục vụ cho chi tiêu mà còn có nhiều dịch vụ khác kèm theo như kiểm tra số dư tài khoản, chuyển khoản, thanh toán không dùng tiền mặt,.
Mỗi máy ATM đều được nối mạng với hệ thống thanh toán của ngân hàng hay của cả hệ thống thanh toán của mạng lưới các ngân hàng cùng liên minh thanh toán. Với máy ATM thì khách hàng có thể được đáp ứng nhu cầu 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày 1 tuần. Về phía ngân hàng, việc sử dụng máy ATM cũng giúp ngân hàng giảm chi phí in ấn các loại giấy tờ phục vụ thanh toán, tăng doanh số, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh,. Các nhà bán lẻ cũng có lợi khi sử dụng máy ATM do giảm thiểu được thời gian kiểm tra đối chiếu, lưu trữ thông tin về tài khoản của mình nhanh hơn, đồng thời cũng tạo nên hình ảnh một nhà bán lẻ chuyên nghiệp, hiện đại.
8 Hệ thống máy ATM còn góp phần làm giảm chi phí hoạt động của các doanh nghiệp. Chẳng hạn như việc thực hiện trả lương qua tài khoản, các nhân viên có thể nhận được lương ngay trong ngày mà không cần chờ đợi. Doanh nghiệp thì tiết kiệm được nhân công cũng như tạo điều kiện để hạch toán dễ dàng và chính xác hơn trước. Dịch vụ thanh toán qua POS (Point Of Sale) Các thiết bị POS được trang bị tại các điểm bán hàng cho phép khách hàng thanh toán một cách nhanh chóng các hóa đơn cho hàng hóa và dịch vụ tại nơi mua hàng thông qua hệ thống điện tử.
Hệ thống này được đặt tại các điểm bán lẻ, khách hàng sau khi lựa chọn loại hàng hóa mình cần thì tiến hành thanh toán bằng cách đưa thẻ cho nhân viên thanh toán kiểm tra thẻ trên máy. Khách hàng xác nhận giao dịch bằng cách ký vào hóa đơn hay sử dụng mã số cá nhân PIN (Personal Identity Number). Ngân hàng sau khi có thông tin về giao dịch, ngay lập tức hạch toán ghi nợ vào tài khoản của khách hàng và ghi có tương ứng vào tài khoản của Ngân hàng. Hoạt động thanh toán sử dụng thẻ qua các máy thanh toán tại điểm bán hàng làm giảm chi phí về in ấn hóa đơn, kiểm đếm cũng như làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông.
Cả thẻ tín dụng (Credit Card) và thẻ ghi nợ (Debit Card) đều có thể sử dụng hình thức này. Đây là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thông dụng hiện nay. Ở các nước hiện đại, việc sử dụng tiền mặt để thanh toán cho hàng hóa hay dịch vụ là việc hiếm gặp, trừ các trường hợp mà giá trị hóa đơn thanh toán nhỏ. Điều này góp phần đáng kể đến việc làm giảm lượng tiền mặt lưu thông, vì lượng tiền được sử dụng trong hoạt động mua sắm tiêu dùng là khá lớn.
Hiện nay tỷ lệ sử dụng tiền mặt ở Việt Nam là rất cao, lên tới hơn 90% việc thanh toán là sử dụng tiền mặt, đặc biệt là đối với các cá nhân khi mà việc thanh toán thông qua các điểm chấp nhận thanh toán còn hạn chế trên nhiều phương diện, nhiều khi không thuận tiện hoặc gây khó khăn cho khách hàng. Còn đối với các doanh nghiệp thì việc sử dụng tiền mặt tuy tỷ lệ có thấp hơn nhưng cũng ở mức khá cao so với mức trung bình của thế giới c. Dịch vụ thẻ ngân hàng 9 Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán được các NHTM cung cấp cho khách hàng sử dụng thay thế cho tiền mặt được xuất hiện đầu tiên vào những năm 1960 tại Mỹ. Thẻ ngân hàng do có thể thay thế tiền mặt trong các giao dịch cho nên còn được gọi là tiền điện tử (electronic money).
Trên phương diện kỹ thuật hay công nghệ sản xuất và bảo mật, thẻ ngân hàng có thể được chia thành nhiều loại khác nhau như thẻ in nổi, thẻ từ, thẻ chip (smart card). Nhưng xét trên phương diện dịch vụ tài chính, thẻ ngân hàng bao gồm 2 loại: (1) thẻ ghi nợ (debit card) và (2) thẻ tín dụng (credit card). Thông thường, thẻ ngân hàng có hai chức năng: rút tiền mặt và thực hiện thanh toán mà không cần dùng đến tiền mặt. Tuy nhiên, một số thẻ được các NHTM lớn trên thế giới có thêm chức năng bảo chi séc, tức là các NHTM này đảm bảo thanh toán cho khoản tiền ghi trên séc do khách hàng phát hành căn cứ vào số tiền mà khách hàng được sử dụng trên tài khoản thẻ.
Có thể nói rằng những giao dịch ngân hàng tự động như gửi - rút tiền tự động, thanh toán, chuyển tiền, v., là những sản phẩm ngân hàng điện tử đi kèm và làm cho dịch vụ thẻ ngân hàng trở nên có ý nghĩa và tiện ích cao hơn. Với tấm thẻ ngân hàng, khách hàng có thể có tiền mặt hoặc đáp ứng nhu cầu tiết kiệm hay chi tiêu khác tại bất kỳ nơi nào có máy giao dịch tự động.