phần mở đầu, phần kết luận, danh mục từ viết tắt, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm có 3 chương như sau: Chƣơng I: Những vấn đề cơ bản về Hiệp định Thƣơng mại tự do, Liên minh kinh tế và quan hệ thƣơng mại của một quốc gia với một Liên minh kinh tế Chƣơng II: Thực trạng quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á-Âu Chƣơng III: Giải pháp phát triển quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam với Liên minh kinh tế Á-Âu trong bối cảnh thực thi FTA Luan van 7 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO, LIÊN MINH KINH TẾ VÀ QUAN HỆ THƢƠNG MẠI CỦA MỘT QUỐC GIA VỚI MỘT LIÊN MINH KINH TẾ 1. Khái quát chung về hiệp định thƣơng mại tự do FTA, Liên minh kinh tế 1. Các hình thức và cấp độ hội nhập kinh tế khu vực Cho tới nay khung khái niệm về các cấp độ hội nhập hay liên kết kinh tế mà nhà kinh tế học người Hungary Béla Balassa (1928 – 1991) đưa ra trong công trình “Lý thuyết về hội nhập kinh tế” năm 1961 vẫn được các nghiên cứu về hội nhập kinh tế sử dụng như là khung khái niệm chung trong quá trình phân tích những vấn đề hội nhập kinh tế, cho dù công trình đi theo hướng của những người mở đường như Viner (1950) và Meade (1955). Công trình của ông trình bày năm hình thức liên kết và hội nhập kinh tế khu vực xét theo cấp độ cam kết tự do hóa thương mại và liên kết kinh tế từ “nông” tới “sâu”.
Thỏa thuận Thương mại ưu đãi (Preferential Trade Arrangement/PTA): Các bên tham gia thỏa thuận hạ thấp một phần hàng rào thương mại hàng hóa cho nhau và duy trì hàng rào đó với các bên thứ ba không tham gia thỏa thuận. Khu vực Thương mại Tự do (Free Trade Area/FTA): Các bên tham gia thỏa thuận xóa bỏ hầu hết hàng rào thương mại, thuế quan và phi thuế quan cho nhau nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan riêng của mỗi bên đối với các nước ngoài FTA. Liên minh Thuế quan (Custom Union/CU): Các bên tham gia hình thành FTA và có chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài liên minh. Thị trường Chung (Common Market/CM): Các nước tham gia hình thành Liên minh Thuế quan đồng thời cho phép sự dịch chuyển tự do của các nhân tố sản xuất là vốn và lao động.
Liên minh Kinh tế (Economic Union/EU): Liên minh kinh tế hay còn gọi là liên kết kinh tế: hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất. Được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế Luan van 8 kí kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước. Mục tiêu: tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau. Nghiên cứu của El-Agraa (1999) thì tiếp cận hội nhập khu vực trên cả góc độ chính trị và trình bày hệ thống năm cấp độ hội nhập khu vực nhìn từ mức độ cam kết chính sách và thể chế chung như Bảng 1.
Tổng kết của El-Agraa cho thấy cấp độ liên kết khu vực là “nông” hay “sâu” tùy thuộc vào mức độ hội nhập chính sách và hợp nhất thể chế các quốc gia thành viên. Các cấp độ hội nhập chính sách kinh tế khu vực Hình thức Thƣơng Chính sách Dịch chuyển Chính sách Một liên kết mại tự do thƣơng mại nhân tố sản tiền tệ và tài chính kinh tế nội khối chung xuất tự do khóa chung phủ Khu vực Có Không Không Không Không mậu dịch tự do Liên minh Có Có Không Không Không thuế quan Thị trường Có Có Có Không Không chung Liên minh Có Có Có Có Không kinh tế Liên minh Có Có Có Có Có chính trị Nguồn: El-Agraa, Ali M. (1999), “Regional Integration: Experience, Theory and Measurement”, London, Macmilan Press, Bảng 1.2 Trong năm hình thức mà Viner (1950) đưa ra thì hai hình thức đầu tiên hình thành PTA và FTA được coi là cấp độ hội nhập “nông”, nghĩa là mới điều tiết Luan van 9 những vấn đề thuế quan tại biên giới và tự do hóa thương mại thuần túy, ba hình thức còn lại được phân loại vào nhóm thỏa thuận hội nhập “sâu”, bao hàm các nội dung về hài hòa hóa các vấn đề chính sách trong biên giới quốc gia thành viên, điều phối và xây dựng chính sách chung cho toàn nhóm thành viên và ở mức độ nào đó là hình thành những thể chế khu vực có tư cách pháp lý cao hơn thể chế quốc gia thành viên. (Bùi Trường Giang, 2010) Ngoài các hình thức hội nhập cơ bản trên, trong thực tế có thể tồn tại các hình thức hội nhập khác nằm ở trung gian của các hình thức hội nhập trên, hoặc kết hợp một vài yếu tố của hình thức này với một vài yếu tố của hình thức khác Để thiết lập các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế, thông thường các quốc gia sẽ phải ký kết với nhau các Hiệp định để ràng buộc nghĩa vụ của các nước thành viên; trong đó, FTA được coi là phổ biến nhất đến thời điểm hiện nay.
Khái quát chung về Hiệp định thương mại tự do (FTA) 1. Khái niệm Khái niệm truyền thống Cho tới nay đã có rất nhiều các tổ chức và quốc gia khác nhau đưa ra các khái niệm về FTA cho riêng mình. Điều này thể hiện những quan điểm khác nhau về FTA cũng như sự phát triển đa dạng của các quốc gia. Trong số các khái niệm về FTA đã được đưa ra thì đa số các nước và các tổ chức trên thế giới chấp thuận một số khái niệm sau: Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) tại điều XXIV điểm 8b ghi rõ: “Một khu vực mậu dịch tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hoặc nhiều các lãnh thổ thuế quan.
Trong đó, thuế và các quy định mang tính hạn chế về thương mại (ngoại trừ, trong chừng mực cần thiết, các hạn chế được phép theo quy định của các Điều XI, XII, XIII, XIV, XV and XX) sẽ bị dỡ bỏ đối với phần lớn các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ lập thành khu vực mậu dịch tự do” (WTO- Article XXIV GATT) Khái niệm hiện đại Kể từ thập kỷ 1990 đến nay, khái niệm Hiệp định Thương mại Tự do (Free Luan van 10 Trade Agreement – FTA) đã mở rộng hơn về phạm vi và sâu hơn về cam kết tự do hóa. Đây chính là lý do mà các học giả thường gọi các Hiệp định Thương mại Tự do ngày nay là FTA “thế hệ mới”. Thuật ngữ “thế hệ mới” hoàn toàn mang tính tương đối, được sử dụng để nói về các FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa thương mại hàng hóa, như: FTA Việt Nam-EU (EVFTA); Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP); Hiệp định Đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (T-TIP);các hiệp định thành lập EU; FTA Bắc Mỹ (NAFTA); Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR); các FTA ASEAN+1; FTA Australia-Hoa Kỳ (AUSFTA); … Nếu so với các FTA trước đây và các hiệp định của WTO, thì các FTA “thế hệ mới” bao gồm các nội dung mới hơn như: đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển cũng như dành thời gian chuyển đổi hợp lý để nước đi sau có thể điều chỉnh chính sách theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của mình, … Các nội dung đã có trong các FTA trước đây và các hiệp định của WTO, nay được xử lý sâu sắc hơn trong các FTA “thế hệ mới”, như: thương mại hàng hóa, bảo vệ sức khỏe động vật và thực vật trong thương mại quốc tế, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ (IPR) (với “TRIPS cộng” và “TRIPS siêu cộng”), tự vệ thương mại, quy tắc xuất xứ, minh bạch hóa và chống tham nhũng, giải quyết tranh chấp giữa Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài (ISDS), …Thí dụ: trong các FTA “thế hệ mới”, về thương mại hàng hóa, phần lớn hàng nhập khẩu sẽ được loại bỏ thuế quan; về thương mại dịch vụ và đầu tư, các cam kết đều cao hơn so với cam kết WTO. (Nguyễn Thanh Tâm, 2016) Như vậy, nếu so sánh với các hiệp định của WTO, thì các FTA “thế hệ mới” chính là các hiệp định “WTO cộng”, với những nội dung trước đây từng bị từ chối, thì nay lại cần thiết phải chấp nhận, bởi bối cảnh thương mại quốc tế đã thay đổi.
Việc xem xét các khái niệm về FTA từ truyền thống đến hiện đại giúp rút ra được hai nhận xét sau: Luan van 11 Thứ nhất, có những cách diễn giải khác nhau về FTA và cách diễn giải này thay đổi khi bối cảnh hội nhập toàn cầu thay đổi. Trong luận văn, FTA được hiểu theo cách hiện đại để phù hợp hơn với bối cảnh mới của thương mại quốc tế, theo đó FTA là một hiệp định nhằm loại bỏ hàng rào thương mại giữa các nước thành viên; bao phủ nhiều lĩnh vực hợp tác ngoài tự do hóa thương mại, tuy nhiên nội dung chính và nền tảng vẫn là tự do hóa thương mại. FTA tuy giúp xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các nước thành viên, nhưng lại tạo ra sự phân biệt đối xử với các nước không phải thành viên. Thứ hai, kết quả của việc các quốc gia ký kết và thực hiện các FTA ngoài việc hình thành nên các Khu vực thương mại tự do như cách hiểu truyền thống, còn có thể giúp hình thành các hình thức hội nhập ở mức độ cao hơn như Liên minh kinh tế và Thị trường chung theo cách hiểu hiện đại.
Phân loại FTA FTA song phƣơng FTA song phương được hiểu đơn giản là FTA chỉ có 2 quốc gia hoặc vùng lãnh thổ tham gia đàm phán và ký kết.