Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về cơ cấu thương mại hàng hóa Nhiều nghiên cứu tập trung vào các vấn đề lý luận, đặc biệt phương pháp phân tích cơ cấu thương mại giữa các nước. Trong phần này, tác giả chủ yếu tập trung tổng quan các nghiên cứu được dùng làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu cơ cấu thương mại hàng hóa Việt – Hàn ở các chương tiếp theo. Nghiên cứu của Lall (2000) nhan đề “The technological structure and performance of developing country manufactured exports, 1985‐98”, sử dụng hệ thống SITC cấp độ 3 chữ số để phân chia hàng hóa xuất nhập khẩu thành các nhóm hàng: Hàng hóa sơ cấp (48 ngành); Hàng công nghiệp dựa vào tài nguyên (62 ngành); Hàng công nghiệp công nghệ thấp (44 ngành); Hàng công nghiệp công nghệ trung bình (58 ngành); Hàng công nghiệp công nghệ cao (18 ngành); và Hàng không phân loại khác (10 ngành).
Phương pháp phân loại của Lall (2000) dựa trên mức độ thâm dụng tài nguyên, lao động và công nghệ trong quá trình sản xuất hàng hóa. Nghiên cứu của nhóm tác giả Gaulier, Lemoine và Ünal-Kesenci (2007) nhan đề “China’s integration in East Asia: Production sharing, FDI & high- tech trade”, sử dụng hệ thống BEC để phân loại hàng hóa theo giai đoạn sản xuất. Hàng hóa được chia thành các nhóm: Nhóm hàng hóa sơ cấp; Nhóm hàng trung gian (gồm hàng bán thành phẩm và linh kiện, phụ tùng); Nhóm hàng hóa cuối cùng (gồm tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng). Nghiên cứu của Hinloopen và van Marrewijk (2008) nhan đề “Empirical Relevance of the Hillman Condition for Revealed Comparative Advantage: 10 Stylized Facts”, sử dụng hệ thống phân loại SITC cấp độ 3 chữ số để phân 13 loại hàng hóa xuất nhập khẩu thành 5 nhóm theo mức độ đóng góp của các yếu tố sản xuất, đó là: Nhóm sản phẩm thô (83 ngành); Nhóm sản phẩm tập trung hàm lượng tài nguyên (21 ngành); Nhóm sản phẩm tập trung hàm lượng lao động phổ thông (26 ngành); Nhóm sản phẩm tập trung hàm lượng vốn – trí tuệ (43 ngành); và Nhóm hàng không phân loại (5 ngành).
Nghiên cứu của Hanson (2010) nhan đề “Sources of export growth in developing countries” dựa vào mức độ thâm dụng các yếu tố sản xuất như đất đai, khoáng sản, lao động, máy móc để chia hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc hệ thống HS 2 chữ số thành các nhóm hàng khác nhau. Cụ thể là các nhóm: (1) Nông nghiệp, thịt, sữa và hải sản; (2) Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, giấy; (3) Các ngành công nghiệp khai khoáng; (4) Hóa chất, nhựa, cao su; (5) Dệt may, quần áo, đồ da, giày dép; (6) Sắt, thép và kim loại khác; (7) Máy móc, điện tử, thiết bị vận tải; và (8) Các ngành công nghiệp khác. Nghiên cứu của Hirschman (1964) nhan đề “The paternity of an index” xây dựng chỉ số mức độ tập trung (HHI). Chỉ số HHI được sử dụng để đo lường mức độ tập trung trong nhiều trường hợp khác nhau như mức độ tập trung của thu nhập, của các hãng.
Trong nghiên cứu thương mại quốc tế, chỉ số HHI được sử dụng để đo lường mức độ tập trung (đa dạng) của sản phẩm, mức độ tập trung (đa dạng) về mặt thị trường trong hoạt động thương mại của một quốc gia. Các quốc gia đang phát triển thường cố gắng đa dạng hóa danh mục mặt hàng xuất nhập khẩu, đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu để giảm thiểu các ảnh hưởng bất lợi từ sự biến động của thị trường quốc tế. Công trình nghiên cứu của Balassa (1965) nhan đề “Trade liberalisation and “revealed” comparative advantage” đã xây dựng phương pháp tính toán chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA), qua đó giải thích cách thức các quốc gia tiến hành trao đổi thương mại với nhau. Để khắc phục tính bất đối xứng về giá trị RCA trong phương pháp nghiên cứu của Balassa (1965), công trình nghiên cứu của Laursen (2000) nhan đề “Trade specialisation, technology and economic growth: Theory and evidence from advanced countries” đã xây 14 dựng chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu được tiêu chuẩn hóa (NRCA), với giá trị đối xứng từ -1 đến +1.
Nghiên cứu của Grubel và Lloyd (1975) nhan đề “Intra-industry trade: the theory and measurement of international trade in differentiated products” đã xây dựng phương pháp đo lường mức độ thương mại nội ngành giữa các quốc gia. Công trình nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về sản phẩm và tính kinh tế theo quy mô là các nhân tố chính giải thích cho hiện tượng gia tăng trao đổi các mặt hàng trong cùng nhóm, ngành hàng giữa các quốc gia. Công trình nghiên cứu của Michaely (1996) nhan đề “Trade preferential agreements in Latin America: an ex-ante assessment” đã xây dựng phương pháp tính toán chỉ số bổ sung thương mại (TCI) để đo lường mức độ tương thích trong xuất khẩu và nhập khẩu giữa các quốc gia Mỹ Latinh, giữa Hoa Kỳ với các quốc gia Mỹ Latinh. Qua đó, tác giả đưa ra các đánh giá về lợi ích tiềm năng mà các quốc gia này thu được nếu tiến hành tự do hóa thị trường và hình thành khu vực mậu dịch tự do chung của khối.
Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Hausmann, Hwang và Rodrik (2006) nhan đề “What you export matters” đã xây dựng chỉ số độ phức tạp của sản phẩm xuất khẩu (EXPY) để tính toán sự phức tạp của sản phẩm xuất khẩu giữa các quốc gia. Nghiên cứu dựa trên giả định rằng, nếu một sản phẩm chủ yếu được sản xuất bởi các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao, sản phẩm đó có hàm lượng phức tạp lớn. Ngược lại, nếu một hàng hóa chủ yếu do các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp sản xuất, hàng hóa đó được coi có hàm lượng phức tạp thấp. Nhiều công trình nghiên cứu sử dụng các chỉ số cơ cấu thương mại như TCI, HHI và IIT hay các mô hình kinh tế định lượng gồm mô hình trọng lực, mô hình cân bằng chung tổng thể và mô hình cân bằng chung một phần để làm nổi bật quan hệ, cấu trúc thương mại giữa các quốc gia, đặc biệt các quốc gia thuộc khu vực Đông Á.
Các công trình tiêu biểu bao gồm: “Competition and complementarity in Northeast Asian trade: Korea’s perspective” của Nam 15 (2000); “Trade structure and Complementarity among APEC member economies” của Nam (2003); “Fragmentation and vertical intra-industry trade in East Asia” của Ando (2006); “Trade structures and relations among China, Japan, and Korea” của Yoon và Yeo (2007); “Intra-industry trade between Japan and Korea: Vertical intra-industry trade, fragmentation and export margins” của Yoshida (2008). Ở trong nước, công trình luận án Tiến sỹ của Nguyễn Thị Minh Hương (2012) nhan đề “Cơ cấu thương mại hàng hóa Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn 2001-2010”, cho đến nay có lẽ là nghiên cứu xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận về cơ cấu thương mại hàng hóa tương đối toàn diện. Công trình luận án đưa ra và phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến cơ cấu thương mại, các lý thuyết thương mại quốc tế, các cách tiếp cận phân tích cơ cấu thương mại hàng hóa song phương. Công trình luận án sử dụng chỉ số IIT để đánh giá thương mại nội ngành giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Tuy vậy, công trình nghiên cứu vẫn chưa đề cập thỏa đáng đến nhiều vấn đề khác liên quan đến cơ cấu thương mại hàng hóa như cường độ thương mại, độ phức tạp của sản phẩm, hàm lượng công nghệ, giai đoạn sản xuất, thương mại giá trị gia tăng, lợi thế so sánh hiện hữu, tính bổ sung thương mại. Như vậy, các vấn đề lý luận về cơ cấu thương mại hàng hóa đã được đề cập trong khá nhiều công trình nghiên cứu, nhất là nghiên cứu ở nước ngoài. Tuy nhiên, hiện vẫn thiếu vắng các công trình nghiên cứu xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận toàn diện về cơ cấu thương mại hàng hóa song phương và áp dụng vào phân tích trường hợp cụ thể thương mại Việt Nam – Hàn Quốc. Các công trình nghiên cứu thương mại Việt – Hàn như là một phần hợp thành quan hệ chung giữa hai quốc gia hoặc cấp độ rộng lớn hơn 1.
Các nghiên cứu ở trong nước Nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước phân tích thương mại như là một phần cấu thành quan trọng tổng thể quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và 16 Hàn Quốc. Các công trình tiêu biểu bao gồm: “Nhìn lại quan hệ kinh tế Việt- Hàn” của Hoàng Văn Hiển, Ngô Văn Phúc (2002); “Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Thành tựu và thách thức” của Phạm Minh Sơn (2003); “Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới” của Ngô Xuân Bình (2013); “Hàn Quốc với khu vực Đông Á sau chiến tranh lạnh và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc” của Nguyễn Hoàng Giáp (2009); “Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay và triển vọng phát triển đến năm 2020” của Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Văn Dương (2011); “Quan hệ Việt - Hàn: Thành tựu và vấn đề trong hợp tác phát triển quốc tế và hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc” của Park Noh Wan (2011); “Việt Nam - Hàn Quốc: một phần tư thế kỷ chia sẻ cùng phát triển” của Lee Han Woo và Bùi Thế Cường (2015); “Sự can dự của các nước Đông Bắc Á vào Tiểu vùng sông Mê Kông” của Nguyễn Thị Thắm (2015). Điểm chung của những công trình nghiên cứu trên là các tác giả sử dụng chủ yếu cách tiếp cận mang tính định tính, tức là sử dụng các phương pháp thống kê mô tả để phân tích quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trên nhiều lĩnh vực, bao gồm thương mại. Các dữ liệu nghiên cứu chủ yếu lấy từ Tổng cục thống kê của Việt Nam mà chưa có nhiều nghiên cứu dựa vào các nguồn dữ liệu được quốc tế sử dụng rộng rãi như UN Comtrade, UNCTAD, OECD, hay Ngân hàng Thế giới.
Tương tự, các nghiên cứu “Hợp tác kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh hội nhập Đông Á” của Đỗ Hoài Nam, Ngô Xuân Bình và Sung-Yeal Koo (2005); “Triển vọng và giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới (2005); “Vốn hỗ trợ phát triển chính thức của Hàn Quốc tới các nước CLMV” của Trương Quang Hoàn (2012); “Hội nhập kinh tế Đông Á nhìn từ góc độ mạng lưới sản xuất khu vực và hàm ý đối với Việt Nam” của Bùi Thái Quyên (2014) cũng chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính hỗ trợ cho phân tích, đánh giá về quan hệ hợp tác kinh tế, 17 thương mại và đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc.