phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được chia làm 3 chương: Chƣơng 1. Lý luận chung về công tác hải quan trong khuôn khổ cơ chế Một cửa ASEAN Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động và triển khai cơ chế Một cửa ASEAN của Hải quan Việt Nam Chƣơng 3. Giải pháp thực hiện cơ chế Một cửa ASEAN tại các cửa khẩu đƣờng bộ quốc tế với Lào và Campuchia Luan van 6 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẢI QUAN TRONG KHUÔN KHỔ CƠ CHẾ MỘT CỬA ASEAN 1.
Khái niệm về cơ chế Một cửa Thương mại quốc tế đang đứng trước những thay đổi to lớn. Trước đây, hoạt động kinh tế được tiến hành chủ yếu dựa trên hệ thống văn bản giấy. Hàng ngày, các doanh nghiệp trên thế giới phải chuẩn bị và nộp cho các cơ quan quản lý nhà nước những hồ sơ cung cấp thông tin giống nhau và lặp lại nhiều lần gây ra sự lãng phí về mặt thời gian và tài chính. Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin và thương mại điện tử, các quốc gia và tổ chức kinh tế thế giới đều hướng tới xây dựng cơ chế Một cửa nhằm tạo thuận lợi cho luồng thông tin được thông suốt, tránh những yêu cầu thông tin trùng lặp giảm thủ tục giấy tờ để làm tăng tốc độ luân chuyển của hàng hoá, giảm thời gian và chi phí cho cộng đồng doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế cho xã hội.
Cho đến thời điểm hiện tại, định nghĩa cơ chế Một cửa mà các quốc gia đưa ra đều bám sát và được phát triển thêm dựa trên định nghĩa tại Khuyến nghị số 33 về xây dựng cơ chế Một cửa và tài liệu hướng dẫn xây dựng cơ chế Một cửa và tài liệu hướng dẫn xây dựng cơ chế Một cửa do Trung tâm nghiên cứu của Liên hiệp quốc về tạo thuận lợi thương mại và thương mại điện tử (UN/CEFACT) thuộc Uỷ ban kinh tế Châu Âu của Liên hiệp quốc (UNECE) đưa ra. Theo đó, “Cơ chế Một cửa được định nghĩa là một công cụ tạo thuận lợi cho phép các bên tham gia vào hoạt động thương mại và vận tải gửi chứng từ và thông tin đã được chuẩn hoá tới một điểm tiếp nhận duy nhất để thực hiện tất cả các quy định dành cho các hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh. Nếu thông tin được nộp dưới dạng điện tử thì mỗi tiêu chí thông tin chỉ nên được nộp một lần”. Theo định nghĩa này, nhiều sáng kiến về Cơ chế Một cửa đã được áp dụng thành công và phổ biến tại nhiều nước trên thế giới.
Tại Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Canada, Australia, Cơ chế Một cửa được xây dựng và vận hành trên cơ sở hệ thống thông tin tự động của cơ quan hải quan và cơ quan quản lý giao thông vận tải kết nối với các cơ quan quản lý khác trong mô hình kết Luan van 7 nối tổng thể của hệ thống Một cửa quốc gia. Việc thực hiện Cơ chế Một cửa quốc gia đã đem lại lợi ích to lớn cho hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động quản lý nhà nước và là động lực quan trọng để thương mại điện tử đi vào cuộc sống. Những vấn đề cơ bản về cơ chế Một cửa ASEAN 1. Khái niệm về cơ chế Một cửa ASEAN Theo Hiệp định và Nghị định thư đã được Chính phủ Việt Nam phê duyệt tại văn bản thông báo số 1621/TTg-QHQT, ngày 30/10/2007, cùng với Campuchia, Lào, Myanamar, Việt Nam sẽ xây dựng Cơ chế Một cửa quốc gia và sẵn sàng kết nối với cơ chế Một cửa ASEAN vào năm 2012.
Các nước ASEAN – 6 bao gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, theo kế hoạch đã triển khai Cơ chế Một cửa quốc gia vào năm 2008 và kết nối cơ chế Một cửa ASEAN vào năm 2012. Trong Hiệp định và Nghị định thư về xây dựng và thực hiện cơ chế Một cửa ASEAN, Cơ chế Một cửa ASEAN được định nghĩa một cách ngắn gọn là một môi trường trong đó các Cơ chế Một cửa quốc gia hoạt động và kết nối với nhau để đẩy nhanh việc giải phóng và thông quan hàng hoá. Trong định nghĩa này, Cơ chế Một cửa quốc gia là một hệ thống cho phép: xuất trình dữ liệu và thông tin một lần; xử lý thông tin, dữ liệu một lần và đồng thời; và ra quyết định một lần cho việc giải phóng và thông quan hàng hoá. Việc ra quyết định một lần được hiểu một cách thống nhất là một điểm ra quyết định duy nhất bởi cơ quan hải quan đối với việc giải phóng hàng hoá trên cơ sở các quyết định của các bộ ngành chức năng được gửi tới cơ quan hải quan một cách kịp thời.
Các nước thành viên xây dựng và thực hiện cơ chế Một cửa quốc gia của mình dựa trên các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế ohor biến nhất như đã xác định trong các hiệp định và công ước quốc tế liên quan đến tạo thuận lợi thuơng mại và hiện đại hoá kỹ thuật nghiệp vụ hải quan. Cơ chế Một cửa quốc gia cần phải là một trung tâm chung, trung lập, an toàn và tin cậy để các doanh nghiệp, các ngành nghề và chính phủ liên lạc, trao đổi, xử lý thông tin liên quan đến thương mại và tiếp vận nhằm thông quan hiệu quả hàng hoá. Luan van 8 Theo khái niệm rộng, Cơ chế một của ASEAN hoạt động trong môi trường có các đặc điểm như kết nối và đồng bộ hoá không ngừng các quy trình thủ tục và tiêu chí thông tin được tiêu chuẩn hoá bởi các bên liên quan (chính phủ và doanh nghiệp). Nói cách khác, Cơ chế Một cửa ASEAN hoạt động trong bối cảnh tăng cường hài hoà hoá và đơn giản hoá quy trình, thủ tục hải quan cũng như tiêu chuẩn hoá các tiêu chí thông tin theo các tiêu chuẩn quốc tế (theo Công ước Kyoto sửa đổi).
Cơ chế Một cửa ASEAN áp dụng những tiến bộ mới nhất của quy trình xử lý thông tin (Công nghệ thông tin và viễn thông – ICT) và tự tích hợp qua hệ thống kết nối an toàn. Chức năng của Cơ chế Một cửa ASEAN được thực hiện dựa trên mối quan hệ với các chủ thể kinh tế dưới nhiều hình thức như chính phủ - chính phủ, chính phủ - doanh nghiệp, doanh nghiệp – doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp – chính phủ. Cụ thể hơn, Cơ chế Một cửa là một môi trường tạo thuân lợi cho hoạt động thương mại trên cơ sở các tiêu chí thông tin, quy trình, thủ tục, các thông lệ quốc tế phổ biến nhất liên quan đến việc giải phóng và thông quan hàng hoá tại các cửa khẩu ASEAN theo một chế độ hải quan nhất định (xuất khẩu, nhập khẩu hoặc các chế độ khác). Cơ chế Một cửa ASEAN nhằm mục đích đẩy nhanh việc giải phóng hàng hoá đến và đi từ ASEAN để giảm chi phí giao dịch và thời gian cần để thông quan hải quan trong khu vực.
Cơ chế Một cửa ASEAN cũng được coi là một phần của dây chuyền cung ứng quốc tế và của ngành giao nhận vận tải, hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả Cộng đồng kinh tế ASEAN. Việc xây dựng và triển khai Cơ chế Một cửa ASEAN có thể thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác và đối tác hài hoà giữa cơ quan hải quan và các cơ quan chính phủ cũng như các chủ thể kinh tế (như nhà nhập khẩu, xuất khẩu, nhà kinh doanh dịch vụ vận tải, dịch vụ chuyển phát nhanh, đại lý hải quan, các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính, bảo hiểm và các chủ thể tương tự) trong phạm vi dây chuyền cung ứng quốc tế nơi diễn ra các giao dịch quốc tế. Cơ chế Một cửa ASEAN và các cơ chế Một cửa quốc gia hoạt động trong một môi trường mở ( cả về mặt kỹ thuật và vận hành thực tế), tạo thêm cơ hội để hệ thống thông quan của các nền kinh tế khác nhau có thể liên kết hoạt động với nhau khi có đầy đủ các điều kiện. Mục tiêu, nguyên tắc thực hiện cơ chế Một cửa ASEAN 1.
Mục tiêu Trước hết, Cơ chế Một cửa ASEAN và các cơ chế Một cửa quốc gia được xây dựng nhằm mục tiêu tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư. Nhờ đó, Cơ chế Một cửa ASEAN có thể góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh cho các quốc gia trong khu vực. Cơ chế Một cửa ASEAN và các cơ chế Một cửa quốc gia hoạt động trong một môi trường mang tính toàn cầu nhiều hơn, tạo điều kiện cho các giao dịch quốc tế của các nền kinh tế khu vực đạt tính cạnh tranh cao hơn. Khi thực hiện Cơ chế Một cửa ASEAN và các cơ chế Một cửa quốc gia, hiệu quả thương mại và tính cạnh tranh của các nền kinh tế thành viên được nâng cao thông qua tiêu chuẩn hoá các thông tin và dữ liệu liên quan đến thương mại; tiêu chuẩn hoá và hài hoà hoá các chứng từ và thủ tục theo các tiêu chuẩn và công ước quốc tế; đơn giản hoá và tiêu chuẩn hoá dòng quy trình thương mại liên quan đến thông quan hàng hoá; và thiết lập một hệ thống khuôn khổ pháp lý phù hợp.
Như đã đề cập trên, cơ chế Một cửa ASEAN hoạt động trong một môi trường xử lý thông tin hài hoà và tiêu chuẩn hoá (bao gồm cả thông tin thương mại và hoặc thông tin quản lý) để đẩy nhanh việc giải phóng và thông quan hàng hoá. Với vai trò chiến lược của mình, Cơ chế Một cửa ASEAN cũng được coi như một nỗ lực cụ thể nhằm đạt được thời gian thông quan hàng hoá trung bình là 30 phút. Cơ chế Một cửa ASEAN còn tập trung vào việc hài hoá các mối liên kết và quy trình hoạt động để tạo thuận lợi cho dòng thông tin luân chuyển và để kết nối hiệu quả các kênh thông tin giữa các bộ ngành hữu quan và cơ quan chính phủ cấp quốc gia. Nâng cao mối quan hệ hợp tác liên ngành của các cơ quan quản lý chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc hài hoá các quy trình nghiệp vụ quản lý và thông quan cũng như trong việc tăng cường trao đổi kịp thời thông tin và các quyết định.
Mục tiêu hài hoà và đơn giản hoá việc trao đổi thông tin giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp có thể coi là một trong những mục tiêu cơ bản khi xây dựng cơ chế Một cửa. Đạt được mục tiêu này, cơ chế Một cửa có thể mang lại nhiều lợi ích thật sự cho chính phủ các nước cũng như cộng đồng doanh nghiệp.