CHƯƠNG 1 CƠ SỞ THIẾT LẬP NỀN DÂN CHỦ MỸ THỜI CẬN ĐẠI 1. Cơ sở lý luận hình thành nền dân chủ ở Mỹ thời cận đại 1. Tư tưởng của John Locke John Locke (1614-1657), một nhà triết học người Anh, là người đã khởi thảo học thuyết phân quyền. Tư tưởng của ông ảnh hưởng lớn đến nhiều lĩnh vực như triết học, chính trị,… Những lý luận của ông về chủ nghĩa tự do và khế ước xã hội đã ảnh hưởng trực tiếp đến Voltaire, Montesquieu và sau này tới cả những người sáng lập nên Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ như Alexander Hamilton, James Madison và Thomas Jefferson.
Tên tuổi của John Locke được biết đến nhiều nhất qua cống hiến của ông cho chủ nghĩa tự do nói chung và ảnh hưởng với nước Mỹ nói riêng. Đóng góp quan trọng của ông đối với nước Mỹ nói riêng và nhân loại nói chung, đó là những tư tưởng về khế ước xã hội và quyền tự nhiên của con người. Khi đề cập đến quyền tự nhiên của con người, Locke quan niệm rằng, con người có quyền sống, quyền tự do, sức khỏe và sở hữu. Trong đó, quyền mưu cầu sinh tồn của con người là quyền tự nhiên trước tiên.
Ông giải thích rằng, tài sản có trước Nhà nước và do lao động sinh ra, cho nên tài sản là quyền tự nhiên của con người và Nhà nước không có quyền can thiệp. Đề cập đến Nhà nước, Locke cho rằng, chính phủ là “một khế ước xã hội” giữa “kẻ cai trị” và “người bị trị”. Điều này có nghĩa, vì nhu cầu của sự liên kết để cùng phát triển, con người chấp nhận giao quyền hành cho một nhóm người có khả năng để điều hành đất nước. Nhà nước được thành lập để bảo vệ quyền của con người và có thể bị thay đổi bị chính người dân.
Locke cho rằng, quyền lực chính trị sẽ không bao giờ quay trở về với nhân dân nếu như chính phủ đó tồn tai một cách tốt đẹp, công chính, bảo đảm các quyền của con người. Nhưng nếu chính Luan van 8 phủ đó thất bại trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình thì “nhân dân có quyền hành động với tư cách quyền lực tối cao và tự mình tiếp tục công việc lập pháp, hoặc dựng lên một hình thức chính quyền mới, hoặc vẫn theo hình thức cũ đó nhưng được đặt vào tay những con người mới, theo những gì họ cho là tốt đẹp” [21;243]. Theo ông, một chính quyền tốt là một chính quyền có thể bảo vệ được những quyền tự nhiên của con người, nghĩa là bảo đảm cho con người có quyền được sống, được tự do, có sức khỏe và của cải. Để có thể bảo đảm thực hiện được việc này, Locke cho rằng, dạng Nhà nước tốt nhất chính là quyền lực của hệ thống chính quyền được hạn chế bằng cách chia thành các nhánh và mỗi nhánh có quyền hạn riêng đủ cần thiết để thực hiện chức năng của mình.
Ông chia quyền lực nhà nước thành các quyền: lập pháp, hành pháp, và liên minh. Đồng thời phân chia các cơ quan sử dụng các quyền trên: quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp và quyền liên minh thuộc về nhà vua. Ông còn đề cập đến giới hạn của mỗi cơ quan trong việc sử dụng quyền lực của mình: Nghị viện có quyền thông qua các đạo luật nhưng không thể can thiệp vào công việc thực hiện chúng; Nhà vua có quyền lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các quan chức, giải quyết các vấn đề hòa bình, chiến tranh, đối ngoại của đất nước nhưng không có những đặc quyền quyết định nào đối với Nghị viện. Sự phân chia này nhằm không tạo điều kiện hay cơ hội cho các thế lực chính trị thâu tóm quyền lực về tay minh và xâm phạm các quyền tự nhiên của công dân.
Để duy trì trật tự xã hội, cũng như có thể thực hiện những quyết định mà chính quyền lãnh đạo đưa ra thì Nhà nước cần phải có được sự hậu thuẫn của người dân, nghĩa là phải được người dân đồng thuận. Tuy nhiên, không phải lúc nào toàn bộ người dân cũng đều tán thành hay chấp nhận những quyết định hay chính sách của Nhà nước. Do vậy, ông chủ trương phải chấp nhận tính quyết định dựa trên ý kiến của đa số lên trên hành vi của mỗi cá nhân, nghĩa là “thiểu số phải phục tùng đa số”. Luan van 9 Tuy nhiên, Locke không xét tới quyền của tất cả mọi người.
Trọng tâm của ông là nhằm bảo vệ quyền của nam giới châu Âu, những người có sỡ hữu tài sản. Trong khi đó, phụ nữ và những người bản địa, người hầu, người lao động được trả lương lại không được công nhận là những người được hưởng đầy đủ các quyền tự nhiên của một con người. Đây là một hạn chế của ông. Mặc dầu vậy, những tư tưởng của Locke vẫn là một bước đột phá về tư tưởng chính trị và nhân quyền thời bấy giờ.
Nó có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc Cách mạng Mỹ năm 1775-1783 và những khái niệm trong Hiến pháp Mỹ, một văn kiện cho đến nay vẫn điều chỉnh mọi bộ luật Mỹ. Tư tưởng của ông đã được các nhà ái quốc Bắc Mỹ tiếp thu làm mục tiêu của cuộc chiến tranh chống thực dân Anh giành độc lập. “Tác phẩm của Locke “Tiểu luận về chính quyền dân sự” xuất bản năm 1690 đã cung cấp cho cuộc đấu tranh giành độc lập Bắc Mỹ một nội dung lý thuyết về nhà nước tư sản. Đó cũng là cách mạng tư sản Anh lan sang Bắc Mỹ, được chấp nhận và áp dụng trong thực tiễn.
Đó là lý thuyết tư sản về nhiệm vụ của nhà nước là bảo vệ tính mạng, tự do và tài sản của nhân dân. Quyền lực chính trị là của dân và do dân ủy thác quyền lực đó cho chính phủ. Chính phủ là đại diện của dân, vì thế có bổn phận thực thi quyền hành do dân giao phó” [27;92-93] 1. Tư tưởng của Charles Montesquieu Montesquieu tên thật là Charles de Secondat (1689-1755), xuất thân từ dòng dõi quý tộc của nước Pháp.
Montesquieu là nhà tư tưởng vĩ đại trong thời kỳ Khai sáng. Tư tưởng của ông đã có những ảnh hưởng rất lớn đến kiệt tác “Bàn về khế ước xã hội” của Rousseau – Cha đẻ tinh thần trực tiếp của Cách mạng Pháp – sau đó và đến toàn bộ tinh thần giải phóng của cuộc Cách mạng Mỹ và Cách mạng tư sản Pháp sau đó khoảng 40 năm, mở đường ra đời cho sự ra đời của các thể chế dân chủ với xã hội công dân và nhà nước pháp quyền trên toàn thế giới. Khi đề cập đến các loại hình nhà nước của xã hội loài người, Montesquieu đã trình bày những đặc điểm riêng của mỗi loại hình. Ông nêu lên bản chất của mỗi chế độ nhà nước: “Chính thể dân chủ là chính thể mà dân chúng hay một bộ phận Luan van 10 dân chúng có quyền lực tối cao.
Chính thể quân chủ thì chỉ một người cai trị, nhưng cai trị bằng luật pháp được thiết lập hẳn hoi. Trong chính thể chuyên chế thì trái lại, chỉ một người cai trị, mà không luật lệ gì hết, chỉ theo ý chí và sở thích của hắn ta mà thôi” [25;47]. Và ông đã thể hiện rõ thái độ căm ghét của mình đối với chế độ chuyên chế khi đưa ra lời định nghĩa vắn tắt về “ông vua chuyên chế” là “một con người mà cả năm giác quan luôn luôn nói rằng ông ta là tất cả và mọi người không là cái gì hết” [16;132]. Theo ông, nhà nước chuyên chế là một nhà nước chuyên quyền, độc tài và bạo lực.
Từ đó, Montesquieu đề cao vai trò của pháp luật đối với một nhà nước. Ông cho rằng, quốc gia sẽ được ổn định nếu pháp luật thích hợp cũng như phản ánh đúng tinh thần căn bản của chính thể đương thời. Chính vì vậy, ông đặt ra nhiệm vụ hàng đầu cho các nhà lập pháp là nghiên cứu để đưa ra những sắc lệnh ủng hộ chính thể hiện hữu. Montesquieu cho rằng con người chỉ thực sự có tự do khi con người làm theo pháp luật.
Đồng thời, pháp luật một phần nào góp phần vào việc hạn chế sự bất bình đẳng trong xã hội. Mọi người đều được bình đẳng trước pháp luật, dù là người tài giỏi hay là người thấp kém nhất. Mặt khác, Montesquieu còn đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại của một mô hình nhà nước. Ông nói đến sự tương quan giữa quốc gia và yếu tố địa lý.
Theo ông, chính thể cộng hòa cần có một diện tích nhỏ bởi vì chính quyền có nhu cầu đoàn kết toàn dân. Nếu diện tích của quốc gia quá rộng lớn, sự khác biệt giữa nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân ở mỗi vùng có thể đưa đến xung đột chính trị. Tuy vậy, quốc gia với một diện tích quá nhỏ có thể bị xâm chiếm dễ dàng bởi ngoại bang. Và Montesquieu đã đưa ra đề nghị mô hình liên bang quốc gia để giải quyết cho bài toán quốc phòng của một quốc gia: một số tiểu quốc kết hợp với nhau thành lập một liên bang nhằm tập trung sức mạnh để bảo vệ an ninh chung.
Mỗi tiểu quốc tự giải quyết các vấn đề nội bộ mà không sợ bị chi phối bởi ngoại bang. Song song với việc đó, các tiểu quốc trong cùng một liên bang sẽ kết hợp thành Luan van 11 một mặt trận chung để đối ngoại. Quan niệm liên bang quốc gia của Montesquieu đã ảnh hưởng đến tư tưởng của các chính trị gia sáng lập Hoa Kỳ. Nó góp phần vào việc xây dựng một mô hình nhà nước phù hợp cho nước Mỹ, bảo đảm thực hiện những tư tưởng dân chủ cho nhân dân Mỹ.
Nếu như Locke đã đề cập đến học thuyết phân quyền một cách còn hạn chế. Thì Montesquieu là người đã phát triển toàn diện học thuyết này. Chính vì vậy, khi nói đến tư tưởng phân quyền, người ta liền nghĩ ngay đến Montesquieu. Đây có thể xem là một trong những chính thuyết quan trọng nhất của nhân loại và là một trong các nguyên tắc căn bản trong Hiến pháp của nhiều quốc gia, trong đó có nước Mỹ.
Điều bất ngờ ở đây là thuyết phân quyền được Montesquieu sáng tạo dựa trên sự hiểu biết thiếu chính xác của ông về tình hình chính trị của Anh quốc, nơi ông trú ngụ không đầy hai năm. Tuy được xây dựng trên một cơ sở hiểu biết không đầy đủ, thuyết phân quyền đã ảnh hưởng bao trùm lên tiến trình phát triển chính trị của phương Tây.