Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CẤP XÃ TRONG LĨNH VỰC XÃ HỘI 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã trong lĩnh vực xã hội 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã trong lĩnh vực xã hội * Khái niệm dân chủ Dân chủ (De’moscratie) ra đời từ thời Hy Lạp cổ đại, khoảng thế kỷ thứ VII- VI trước công nguyên, gồm 02 từ "demos" có nghĩa là dân và "kratos" là quyền lực. Dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định. Có thể nói rằng, phương thức thực hiện dân chủ đã trải qua một quá trình vận động, biến đổi ở buổi đầu sơ khai của lịch sử nhân loại, quyền lực của cộng đồng được thể hiện dưới hình thức tự quản, mọi thành viên đều có quyền tham gia vào các quyết định lớn của cộng đồng, họ vừa là chủ thể, vừa là đối tượng chịu sự điều chỉnh của quyền lực ấy. Đây là hình thức thực hiện dân chủ chất phác và được coi là thời đại kim hoàng của dân chủ, vì mọi quyền lực xã hội về cơ bản đều thuộc về nhân dân.
Sự phát triển của dân chủ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, năng lực nhận thức của công dân, chính quyền, truyền thống lịch sử, văn hóa, pháp lý… Dân chủ là mục tiêu, động lực phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, là khát vọng được làm chủ, quyền tự nhiên của con người, trong đó có quyền sử dụng tất cả sức mạnh để thực hiện vai trò của người làm chủ và quyền làm chủ đó được giai cấp cầm quyền trong lịch sử thể chế thành pháp luật cùng các thiết chế chính trị - xã hội khác. Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa quyết định của dân chủ nên ngay từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi đó là một vấn đề hệ trọng, có ý nghĩa chiến lược sâu sắc đối với sự phát triển của đất nước. 7 Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta đã khẳng định rõ quan điểm về dân chủ trong việc xây dựng Nhà nước Việt Nam: “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm.
Khắp nơi đều có đoàn thể nhân dân, như: Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn… là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với chính phủ” [57, tr. Như vậy, "dân là chủ" và "dân làm chủ" là cốt lõi trong khái niệm "dân chủ" của Hồ Chí Minh. Quan điểm này thể hiện rõ nội dung cơ bản mà nhân loại thừa nhận: Dân chủ nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa chế độ dân chủ thực sự, dân chủ của đa số nhân dân với sự đảm bảo thực hiện của nhà nước pháp quyền xã hội hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, ở đó, quyền dân chủ của công dân không ngừng được mở rộng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, của xã hội.
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ra đời từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền nhà nước, đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và được hoàn thiện dần trong quá trình xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể bao gồm: Đảng Cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, các tầng lớp nhân dân cùng các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận đó, hoạt động trên nguyên tắc bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân và nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản là hạt nhân của hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận lãnh đạo hệ thống chính trị. Đảng Cộng sản lãnh đạo xã hội bằng việc đề ra chủ trương, đường lối, cương lĩnh, chiến lược, sách lược trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là cơ quan thực hiện quyền lực của nhân dân lao động; thay mặt nhân dân lao động, được nhân dân ủy quyền, chịu trách nhiệm trước nhân dân, quản lý mọi hoạt động của xã hội bằng hệ thống pháp luật và những thiết chế nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự bảo vệ, giám sát của nhân dân. Các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Đó là nơi làm chủ tập thể của nhân dân, là khâu trung gian nối liền Đảng Cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa với quần chúng nhân dân. Thông qua các tổ chức này, nhân dân giới thiệu các đại biểu của mình tham gia vào chính quyền, đóng góp ý kiến cho 8 Đảng, nhà nước, đồng thời qua đó nhân dân thể hiện tâm tư, nguyện vọng của mình với Đảng, nhà nước.
Ba bộ phận này cùng với cơ chế vận hành "Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ", hợp thành hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, gắn bó chặt chẽ với nhau vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhân tố cơ bản nhất để thực hiện quyền lực của nhân dân. Như vậy, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ được xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mang bản chất của giai cấp công nhân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ thực sự của đông đảo quần chúng nhân dân đối với xã hội. * Khái niệm dân chủ cấp xã Cấp xã thường được gọi chung là “cấp cơ sở” hay “địa bàn cơ sở”.
Xã, phường, thị trấn là “nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống” [30, tr. Có thể nói, mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội., dù ở phạm vi rộng hay hẹp, đều chủ yếu diễn ra trên địa bàn xã, phường, trị trấn. Trên địa bàn xã, phường, thị trấn, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật. luôn diễn ra sôi động và không kém phần phức tạp; trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến lợi ích của Nhà nước, tập thể và người dân.
Chính quyền cấp xã là khâu cuối cùng tiếp nhận và triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của chính quyền cấp trên; là “cổng giao tiếp” giữa Nhà nước và nhân dân trong chừng mực các vấn đề có liên quan tới lợi ích của các bên. Việc xây dựng bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh chỉ có thể trở thành hiện thực khi chúng ta thiết lập và thực hành nền dân chủ ở xã, phường, thị trấn; bảo đảm các điều kiện và sự tham gia thực tế của nhân dân vào các sinh hoạt chính trị - xã hội của địa phương. Dân chủ cấp xã, trước hết, vẫn phải là sự đảm bảo nguyên tắc “toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”; song, đặt trong một phạm vi không gian xã hội cụ thể, trực tiếp là địa bàn xã, phường, thị trấn - nơi cư trú và sinh hoạt của tuyệt đại bộ phận các tầng lớp nhân dân. Chính họ là chủ thể của quyền lực nhà nước, có các quyền dân chủ và trực tiếp thực hiện các quyền dân chủ của mình.
Điều đó nói lên 9 rằng, dân chủ cấp xã luôn gắn liền với địa chỉ cụ thể và với chủ thể trực tiếp thực hiện quyền dân chủ, gắn liền với những nội dung cụ thể có liên quan tới đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của người dân ở cơ sở. Đó là: quyền được biết các nội dung liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân ở cơ sở; quyền được bàn và quyết định, quyền được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định và quyền giám sát đối với tất cả những nội dung dân biết, dân bàn, dân quyết định hoặc tham gia ý kiến. Để nhân dân có thể thực hiện trên thực tế các quyền dân chủ của mình thì dân chủ cấp xã còn phải bao gồm các hình thức thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân; nghĩa là phải “có cơ chế để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp và quyền làm chủ thông qua các cơ quan đại diện của mình" [32, tr. Các hình thức đó có thể là: công khai thông tin bằng cách niêm yết tại trụ sở hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xã, phổ biến, tuyên truyền thông tin trên hệ thống loa truyền thanh của xã, phường, thị trấn, thông qua trưởng thôn/tổ trưởng dân phố (đối với quyền được biết); biểu quyết trong các cuộc họp thôn, thông qua phiếu lấy ý kiến cử tri.
(đối với quyền được bàn và quyết định); thông qua các cuộc họp thôn, phiếu lấy ý kiến cử tri, hòm thư góp ý. Từ những điểm phân tích trên, có thể định nghĩa: Dân chủ cấp xã là biểu hiện cụ thể của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, là sự đảm bảo nguyên tắc toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân tại địa bàn xã, phường, thị trấn trên cơ sở thực hiện quyền được biết, quyền được bàn và quyết định, quyền được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định và quyền giám sát đối với những nội dung có liên quan tới đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của người dân ở xã, phường, thị trấn bằng những hình thức nhất định, phù hợp với các nguyên tắc, quy định của pháp luật. * Khái niệm pháp luật về dân chủ cấp xã Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.