Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Dung thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Ngọc Vượng, thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính (Mã số: 9.02).
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN TỔNG QUAN LUẬN ÁN |
+--------------------------+-------------------------------------------------------------------------+
| Tiêu đề đề tài | Pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam |
| Tác giả (NCS) | Nguyễn Thị Dung |
| Người hướng dẫn khoa học | PGS.TS Đinh Ngọc Vượng |
| Cơ sở đào tạo | Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam |
| Ngành / Chuyên ngành | Luật Hiến pháp và Luật Hành chính |
| Năm hoàn thành | 2019 |
+--------------------------+-------------------------------------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dân chủ trực tiếp (DCTT) xuất phát từ thuật ngữ Hy Lạp cổ đại demokratia (quyền lực hay sự cai trị của nhân dân), là phương thức nguyên thủy để nhân dân trực tiếp quyết định các chính sách và quy tắc quản trị của cộng đồng, quốc gia. Trong quá trình phát triển nhà nước, việc chuyển giao từ DCTT sang dân chủ đại diện là xu thế tất yếu; tuy nhiên, các nền quản trị hiện đại đều ghi nhận sự cần thiết phải kết hợp hai hình thức này nhằm khắc phục những khiếm khuyết của chế độ đại diện.
Tại Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là nguyên tắc hiến định xuyên suốt qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Đặc biệt, Điều 6 Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên khẳng định rõ nguyên tắc: Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước. Đồng thời, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 cũng đặt mục tiêu tạo lập cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là DCTT.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: Trước thời điểm nghiên cứu, DCTT ở Việt Nam chủ yếu được tiếp cận một cách phân tán, thường bị thu hẹp hoặc hình dung mơ hồ trong phạm vi thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) và các mô hình tự quản cộng đồng (thôn, bản, tổ dân phố). Ở các cấp độ này, ranh giới giữa việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội chưa được phân định rành mạch. Khoa học pháp lý trong nước còn thiếu một công trình chuyên khảo toàn diện, có hệ thống lý luận căn bản về DCTT dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, cũng như đánh giá đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về DCTT ở Việt Nam, tiếp tục thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 trong bối cảnh mới.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản:
- Nghiên cứu tổng thể những vấn đề lý luận chung về DCTT và pháp luật về DCTT: Làm rõ quan niệm, nội dung pháp luật, các yếu tố tác động, các điều kiện bảo đảm và kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.
- Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về DCTT ở Việt Nam qua các phương thức cơ bản (trưng cầu ý dân, bầu cử và bãi nhiệm đại biểu dân cử, sáng kiến nhân dân, dân chủ trực tiếp ở cơ sở); phân tích rõ thành tựu, bất cập, hạn chế cùng nguyên nhân của các hạn chế đó.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về DCTT và các điều kiện bảo đảm thực hiện ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, lý luận khoa học pháp lý về dân chủ, DCTT và pháp luật về DCTT; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về DCTT tại Việt Nam; cùng các quy định pháp luật và thực tiễn quốc tế về DCTT được lựa chọn so sánh.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực định về DCTT dưới góc độ ngành khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Trọng tâm xem xét bốn phương thức: (1) Bỏ phiếu trưng cầu ý dân; (2) Bỏ phiếu bầu cử và bãi nhiệm đại biểu dân cử; (3) Bỏ phiếu quyết định về sáng kiến của nhân dân; (4) Dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở.
- Về không gian: Hệ thống pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam, có mở rộng khảo cứu kinh nghiệm tại các quốc gia như Thụy Sĩ, Pháp, Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Philippines, Uruguay, Hungary, Latvia...
- Về thời gian: Khảo cứu quá trình lập hiến và lập pháp từ năm 1945 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2019), trọng tâm là giai đoạn từ sau Hiến pháp năm 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai mảng lớn:
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| TỔNG THUẬT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU |
+----------------------+------------------------------------+----------------------------------------+
| Nhóm nghiên cứu | Tác giả / Cơ quan xuất bản | Tác phẩm / Nội dung trọng tâm |
+----------------------+------------------------------------+----------------------------------------+
| Quốc tế | IDEA International (2014) | Direct democracy – International |
| | | Handbook (Sổ tay DCTT quốc tế) |
| | David Held | Models of Democracy (Các mô hình DC) |
| | Christope Premat (2006) | Direct Democracy in a Comparative |
| | | Perspective |
| | Amartya Sen | Democracy as a Universal Value |
| | Butler David & Ranney Austin (1994)| Referendums around the world |
| | Francis Hamon (1995) | Le referendum: Etude Comparative |
| | Kris W. Kobach (1993) | The Referendum: Direct Democracy in |
| | | Switzerland |
| | Thomas E. Cronin (1989) | Direct Democracy: The Politics of |
| | | Initiative, Referendum and Recall |
+----------------------+------------------------------------+----------------------------------------+
| Trong nước: | PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương (2015)| Đề tài cấp bộ về cơ chế pháp lý DCTT |
| Lý luận chung & DCTT | TS. Lương Minh Tuân, | Đề tài hoàn thiện pháp luật về DCTT |
| | ThS. Nguyễn Thị Dung (2014) | |
| | TS. Nguyễn Thị Vy (2006) | Luận án TS: Cơ sở pháp lý của DCTT |
| | TS. Đặng Xuân Phương (2015) | Đề tài: Cơ chế nhân dân thực hiện |
| | | quyền lực nhà nước bằng DCTT |
| | GS.TSKH Đào Trí Úc, | Công trình đồng chủ biên về DCTT và |
| | PGS.TS Trịnh Đức Thảo, | dân chủ cơ sở |
| | TS. Vũ Công Giao, TS. Trương Hồ Hải| |
+----------------------+------------------------------------+----------------------------------------+
| Trong nước: | PGS. Đinh Ngọc Vượng (2005 - 2006) | Loạt bài viết và tài liệu về pháp luật |
| Trưng cầu ý dân, | | trưng cầu ý dân thế giới và Việt Nam |
| Bãi miễn, Dân chủ | TS. Trương Thị Hồng Hà (2011) | Trưng cầu ý dân: Lý luận và thực tiễn |
| cơ sở | TS. Đặng Minh Tuấn (2015) | Lý luận và thực tiễn trưng cầu ý dân |
| | ThS. Đặng Đình Luyến (2016) | Hoàn thiện chế độ bầu cử |
| | PGS. Dương Xuân Ngọc (2000), | Các công trình nghiên cứu về quy chế |
| | Lương Gia Ban (2003), | dân chủ ở cơ sở |
| | Phan Xuân Sơn (2003) | |
+----------------------+------------------------------------+----------------------------------------+
Các hướng nghiên cứu chính đã có
- Nghiên cứu quốc tế về DCTT: Tập trung phân tích các mô hình dân chủ (David Held phân chia 4 mô hình kinh điển và các biến thể hiện đại dẫn tới mô hình tự quản dân chủ), các cơ chế DCTT như trưng cầu ý dân, sáng kiến công dân, bãi miễn (sổ tay IDEA, Butler & Ranney, Francis Hamon, Thomas E. Cronin).
- Nghiên cứu lý luận trong nước về quyền lực nhân dân và DCTT: Các công trình của Nguyễn Minh Đoan, Phạm Hồng Thái, Hoàng Chí Bảo, Đinh Ngọc Vượng, Trần Ngọc Đường, Nguyễn Đăng Dung... làm rõ nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và xây dựng Hiến pháp năm 2013.
- Nghiên cứu các phương thức thực hiện cụ thể:
- Về trưng cầu ý dân: Loạt công trình của PGS. Đinh Ngọc Vượng, TS. Trương Thị Hồng Hà, TS. Đặng Minh Tuấn, kỷ yếu hội thảo của Hội Luật gia Việt Nam (2013).
- Về bãi miễn đại biểu dân cử: Bài viết của Nguyễn Xuân Diên, Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Thanh Minh, Nguyễn Tiến Đạt, Trịnh Đức Thảo.
- Về dân chủ ở cơ sở: Các ấn phẩm của Ngọ Văn Nhân, Phan Xuân Sơn, Dương Xuân Ngọc, đề án của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Về sáng quyền nhân dân và kinh nghiệm quốc tế: Các nghiên cứu của Đào Trí Úc, Vũ Công Giao, Lương Minh Tuân, Quỳnh Vũ, Trần Việt Dũng, Lê Tấn Phát.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu về từng chế định riêng lẻ tương đối phong phú, nhưng phần lớn mới dừng lại ở việc khảo sát một khía cạnh độc lập (hoặc chỉ nghiên cứu trưng cầu ý dân, hoặc chỉ phân tích quy chế dân chủ ở xã/phường, hoặc tiếp cận bầu cử thuần túy dưới góc độ dân chủ đại diện). Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Dung lựa chọn giải quyết khoảng trống học thuật mang tính chỉnh thể: Xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về pháp luật DCTT, đánh giá toàn diện sự liên kết giữa các phương thức DCTT trong hệ thống pháp luật Việt Nam sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, từ đó xác lập luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế pháp lý DCTT đồng bộ với thể chế dân chủ đại diện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Nền tảng tư tưởng và lý luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân; cùng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Khái niệm công cụ:
- Dân chủ trực tiếp (Direct Democracy): Hình thức nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí, quyết định các công việc của đất nước và cộng đồng mà không qua khâu trung gian ủy quyền.
- Pháp luật về dân chủ trực tiếp: Tập hợp các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nhằm xác lập quyền và các điều kiện bảo đảm cho công dân trực tiếp quyết định các vấn đề của nhà nước và xã hội.
- Mối quan hệ tương hỗ: Luận án tiếp cận DCTT và dân chủ đại diện không phải là hai yếu tố đối lập triệt tiêu nhau, mà là hai phương thức bổ trợ, giao thoa và cùng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành luật học theo từng nội dung:
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THEO TỪNG CHƯƠNG |
+-------------+----------------------------------------------+---------------------------------------+
| Chương | Phương pháp nghiên cứu áp dụng | Mục đích thực hiện |
+-------------+----------------------------------------------+---------------------------------------+
| Chương 1 | Nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phân tích - | Tổng thuật tài liệu, xác định câu hỏi |
| & Chương 2 | tổng hợp, tiếp cận liên ngành luật học, so | nghiên cứu, xây dựng khung lý luận |
| | sánh luật học. | và kinh nghiệm quốc tế về DCTT. |
+-------------+----------------------------------------------+---------------------------------------+
| Chương 3 | Phân tích văn bản quy phạm pháp luật, | Đánh giá thực trạng quy định pháp luật|
| | khảo sát thực tế bằng phiếu điều tra/bảng hỏi| và thực tiễn thi hành từ 1945 đến nay;|
| | xã hội học pháp luật, thống kê, tổng kết | chỉ ra nguyên nhân của hạn chế. |
| | thực tiễn. | |
+-------------+----------------------------------------------+---------------------------------------+
| Chương 4 | Phương pháp phân tích - dự báo khoa học, | Định hướng quan điểm và xây dựng hệ |
| | tiếp cận hệ thống đa ngành và liên ngành | thống giải pháp hoàn thiện pháp luật |
| | luật học. | về DCTT ở Việt Nam. |
+-------------+----------------------------------------------+---------------------------------------+
Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp tọa đàm, trao đổi chuyên gia và hội thảo khoa học với các nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn tại các cơ quan: Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp, Viện Nghiên cứu lập pháp, Viện Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguồn dữ liệu và tư liệu
- Văn bản hiến pháp qua các thời kỳ: Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013.
- Hệ thống văn bản luật và dưới luật: Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH12 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
- Tài liệu, báo cáo khảo sát thực tiễn, số liệu thống kê từ các đề tài nghiên cứu cấp bộ, báo cáo của Ban Công tác đại biểu, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tài liệu khảo cứu kinh nghiệm quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn liên quan đến DCTT ở phạm vi quốc tế và Việt Nam.
- Về nghiên cứu quốc tế: Điểm luận các công trình tiêu biểu về mô hình dân chủ (David Held), các cẩm nang so sánh thể chế DCTT (IDEA), lý thuyết trưng cầu ý dân (Butler & Ranney, Francis Hamon, Kris W. Kobach, Thomas E. Cronin). Các nghiên cứu quốc tế đã làm rõ 4 cơ chế cơ bản: trưng cầu ý dân, sáng kiến công dân, sáng kiến chương trình nghị sự và bãi miễn đại biểu dân cử.
- Về nghiên cứu trong nước: Tổng thuật các nghiên cứu lý luận về chủ quyền nhân dân trong quá trình lập hiến, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về trưng cầu ý dân (Đinh Ngọc Vượng, Trương Thị Hồng Hà, Đặng Minh Tuấn), quyền bãi miễn đại biểu dân cử, chế độ bầu cử và quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Xác lập cơ sở khoa học: Luận án chỉ ra các kết quả đã đạt được của giới nghiên cứu, đồng thời khẳng định việc nghiên cứu một cách toàn diện, đồng bộ pháp luật DCTT dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính trong bối cảnh thi hành Hiến pháp năm 2013 là nhiệm vụ khoa học cần giải quyết.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về pháp luật dân chủ trực tiếp
Chương 2 làm rõ bản chất, đặc điểm, các hình thức biểu hiện của DCTT, cũng như nội dung và cấu trúc của pháp luật về DCTT.
- Các phương thức thực hiện DCTT:
- Trưng cầu ý dân: Là hình thức cử tri trực tiếp bỏ phiếu để quyết định những vấn đề hệ trọng của quốc gia hoặc địa phương. Luận án phân tích quy trình 11 bước chuẩn tắc của trưng cầu ý dân; khảo cứu kinh nghiệm quốc tế về điều kiện thu thập chữ ký (ví dụ: Thụy Sĩ quy định 50.000 chữ ký đối với luật và 100.000 chữ ký đối với sửa đổi Hiến pháp; Latvia yêu cầu 1/10 số cử tri; Uruguay yêu cầu 25% tổng số cử tri) và giá trị pháp lý (giá trị bắt buộc thi hành hoặc giá trị tham khảo).
- Bầu cử và bãi miễn đại biểu dân cử: Luận án luận giải tính chất giao thoa hai mặt của bầu cử. Hành vi trực tiếp bỏ phiếu lựa chọn đại biểu hoặc bỏ phiếu bãi miễn khi đại biểu không còn xứng đáng chính là phương thức thực hiện DCTT mang chức năng kiểm soát quyền lực.
- Sáng kiến công dân: Công dân trực tiếp đề xuất dự án luật, chính sách hoặc sửa đổi hiến pháp khi thu thập đủ số lượng chữ ký theo luật định.
- Dân chủ trực tiếp ở cơ sở: Hình thức nhân dân trực tiếp bàn, quyết định và giám sát các công việc nội bộ cộng đồng (mức đóng góp kinh phí, xây dựng công trình phúc lợi, hương ước, ban giám sát đầu tư cộng đồng, thanh tra nhân dân).
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| BẢNG PHÂN BIỆT TRƯNG CẦU Ý DÂN VỚI CÁC HÌNH THỨC LIÊN QUAN TRONG LUẬN ÁN |
+--------------------+-----------------------------------+-------------------------------------------+
| Tiêu chí | Trưng cầu ý dân | Các hình thức so sánh |
+--------------------+-----------------------------------+-------------------------------------------+
| So với | Nhân dân quyết định các vấn đề | Nhân dân quyết định các vấn đề đã được |
| Phúc quyết toàn dân| do cơ quan nhà nước thông qua | cơ quan nhà nước thông qua hoặc phê chuẩn.|
| | hoặc chưa thông qua. | |
+--------------------+-----------------------------------+-------------------------------------------+
| So với | - Bắt buộc thực hiện bằng lá phiếu| - Đóng góp ý kiến qua hội nghị, văn bản. |
| Lấy ý kiến nhân dân| kín (đồng ý / không đồng ý). | - Đối tượng không giới hạn tuổi bầu cử. |
| | - Chỉ người có quyền bầu cử tham | - Kết quả mang tính tham khảo, cơ quan |
| | gia. | nhà nước có quyền tiếp thu hoặc không. |
| | - Kết quả có giá trị thi hành. | |
+--------------------+-----------------------------------+-------------------------------------------+
| So với | - Do cơ quan nhà nước có thẩm | - Do cơ quan, tổ chức xã hội hoặc cá nhân |
| Điều tra xã hội học| quyền tổ chức. | tiến hành khảo sát. |
| | - Kết quả có giá trị bắt buộc | - Kết quả chỉ có giá trị tham khảo, không |
| | pháp lý đối với nhà nước. | ràng buộc trách nhiệm pháp lý. |
+--------------------+-----------------------------------+-------------------------------------------+
-
So sánh ưu điểm và hạn chế của DCTT với dân chủ đại diện:
- 7 ưu điểm của DCTT: (1) Biểu hiện trực tiếp và chân thực nhất của chủ quyền nhân dân; (2) Bảo đảm tính công khai, minh bạch cao trong thực thi quyền lực; (3) Chính sách phản ánh sát thực ý nguyện của nhân dân; (4) Giảm thiểu hiện tượng vận động hành lang tiêu cực; (5) Hạn chế nguy cơ tập trung quyền lực dẫn đến tham nhũng; (6) Bổ khuyết, khắc phục sự tha hóa ý chí của người đại diện trong dân chủ đại diện; (7) Là phương thức hòa bình giải quyết các bế tắc chính trị sâu sắc.
- 6 hạn chế của DCTT: (1) Khó triển khai ở quy mô dân số và không gian quá lớn; (2) Tốn kém thời gian, kinh phí tổ chức, dễ gây hiện tượng "mệt mỏi cử tri"; (3) Dễ biến thành hình thức nếu trình độ dân trí và ý thức chính trị chưa cao; (4) Nguy cơ gây bất lợi cho nhóm thiểu số trước áp lực đa số; (5) Khó quy kết trách nhiệm cá nhân rõ ràng nếu quyết định tập thể sai lầm; (6) Thiếu tính chuyên môn sâu khi xử lý các vấn đề chính sách phức tạp.
-
Lý luận về pháp luật DCTT: Xác định khái niệm, mục tiêu bảo vệ trật tự pháp lý dân chủ, và đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội phát sinh khi nhân dân trực tiếp biểu quyết các vấn đề lập hiến, lập pháp, chủ quyền, an ninh quốc phòng hoặc các vấn đề tự quản cộng đồng.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam
Chương 3 phân tích tiến trình lập hiến, lập pháp và thực tiễn thi hành các quy định về DCTT qua các thời kỳ lịch sử tại Việt Nam.
-
Quan điểm của Đảng và tiến trình phát triển lập hiến:
- Hiến pháp năm 1946: Đặt nền móng với quyền phúc quyết Hiến pháp và vận mệnh quốc gia (Điều 21, Điều 32), quyền bãi miễn đại biểu dân cử (Điều 61).
- Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992: Tiếp tục duy trì chế định trưng cầu ý dân và quyền bãi miễn, tuy nhiên mức độ cụ thể hóa bằng văn bản luật còn hạn chế.
- Hiến pháp năm 2013: Bước phát triển với Điều 6 ghi nhận DCTT là phương thức thực hiện quyền lực nhà nước độc lập song hành cùng dân chủ đại diện; Điều 28 quy định trách nhiệm giải trình của Nhà nước; Điều 120 ghi nhận quyền cho ý kiến về dự thảo Hiến pháp.
-
Thực trạng hệ thống luật thực định:
- Ban hành Luật Trưng cầu ý dân năm 2015: Cụ thể hóa phạm vi, trình tự, thủ tục tổ chức trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước.
- Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương: Quy định nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín; quy định quyền bãi nhiệm đại biểu.
- Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH12: Xác lập các nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp, nhân dân bàn và biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định, nhân dân tham gia ý kiến và nhân dân giám sát tại xã, phường, thị trấn.
-
Đánh giá hạn chế và nguyên nhân:
- Bất cập: Sau hơn 60 năm lập hiến và cả sau khi có Luật Trưng cầu ý dân 2015, trên thực tế chưa có cuộc trưng cầu ý dân toàn quốc nào được tổ chức. Chế định bãi nhiệm đại biểu không còn xứng đáng mới chỉ được thực hiện tại nghị trường (bởi Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân) mà chưa tổ chức được để toàn thể cử tri tại đơn vị bầu cử trực tiếp bỏ phiếu bãi nhiệm. Thể chế về sáng kiến lập pháp của công dân chưa được quy định cụ thể. Pháp lệnh Dân chủ cơ sở bộc lộ nhiều điểm bất cập về hiệu lực pháp lý và cơ chế bảo đảm thi hành.
- Nguyên nhân: Thiếu vắng các văn bản hướng dẫn chi tiết quy trình tổ chức cho cử tri bỏ phiếu bãi nhiệm; tâm lý e ngại tốn kém và phức tạp; trình độ dân trí, kỹ năng tiếp cận thông tin chưa đồng đều; cơ chế công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của một số cơ quan nhà nước chưa được thực hiện nghiêm túc.
Chương 4: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp ở nước ta hiện nay
Chương 4 đề xuất các quan điểm chỉ đạo và hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành DCTT.
-
Quan điểm chỉ đạo:
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quá trình mở rộng và thực thi DCTT;
- Quán triệt nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân;
- Kết hợp hài hòa, đồng bộ giữa DCTT và dân chủ đại diện;
- Xây dựng pháp luật DCTT phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, thể chế chính trị và trình độ dân trí của Việt Nam.
-
Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Hoàn thiện và hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, làm rõ các tiêu chí cụ thể về vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân toàn quốc và địa phương;
- Xây dựng quy chế, quy trình chi tiết để cử tri tại đơn vị bầu cử thực hiện quyền trực tiếp bỏ phiếu bãi nhiệm đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân;
- Nghiên cứu xây dựng khung pháp lý thể chế hóa sáng kiến lập pháp và sáng kiến chính sách của nhân dân;
- Nâng cấp Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thành văn bản luật (Luật Dân chủ ở cơ sở) nhằm mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu lực thi hành các quyết định trực tiếp của cộng đồng.
- Nhóm giải pháp về điều kiện bảo đảm thực hiện:
- Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tăng cường tính công khai, minh bạch của cơ quan nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tiếp cận thông tin;
- Tận dụng thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 để ứng dụng công nghệ thông tin trong việc lấy ý kiến nhân dân, bỏ phiếu và giám sát hoạt động quản lý nhà nước;
- Nâng cao trình độ dân trí, tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật và văn hóa chính trị - dân chủ cho công dân;
- Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tổ chức và bảo vệ các hình thức DCTT;
- Xác lập các chế tài xử lý nghiêm minh đối với các hành vi cản trở hoặc vi phạm quyền DCTT của công dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện các luận điểm khoa học về DCTT, làm sáng tỏ khái niệm, bản chất, các phương thức biểu hiện và nội dung của pháp luật về DCTT trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Luận giải rõ nét mối quan hệ tương hỗ và tính chất giao thoa giữa DCTT và dân chủ đại diện, khẳng định hành vi trực tiếp bỏ phiếu bầu cử và bãi nhiệm đại biểu là phương thức DCTT kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Xác định rõ vị trí của DCTT tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 là sự phát triển tư duy lập hiến, đưa DCTT trở thành phương thức thực hiện quyền lực nhà nước độc lập bên cạnh dân chủ đại diện.
- Phân định rõ ràng các ranh giới pháp lý giữa trưng cầu ý dân với phúc quyết, lấy ý kiến nhân dân và điều tra xã hội học.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đánh giá có hệ thống thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành DCTT tại Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2019, chỉ rõ những điểm nghẽn khiến một số quyền hiến định (như quyền bãi nhiệm trực tiếp của cử tri, việc tổ chức trưng cầu ý dân) chưa đi vào đời sống thực tế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ góc độ hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật đến xây dựng các thiết chế, điều kiện kinh tế, kỹ thuật công nghệ thông tin và xã hội nhằm đưa các quy định về DCTT vào thực tiễn quản trị quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tiếp cận vấn đề chủ yếu dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, do đó chưa đi sâu vào toàn bộ các khía cạnh kinh tế lượng hoặc các phương pháp xã hội học định lượng quy mô lớn về hành vi cử tri.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng khi có các sự kiện trưng cầu ý dân diễn ra tại Việt Nam;
- Nghiên cứu sâu hơn về quy trình lập pháp ban hành Luật Dân chủ ở cơ sở;
- Nghiên cứu các khía cạnh pháp lý và kỹ thuật bảo mật khi áp dụng công nghệ số và hình thức bỏ phiếu điện tử trong việc thực hiện DCTT trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tư liệu khoa học chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp, Bộ Tư pháp trong việc rà soát, sửa đổi các quy định về trưng cầu ý dân, bầu cử, bãi nhiệm đại biểu dân cử và thể chế hóa dân chủ cơ sở.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Lý luận Nhà nước và Pháp luật tại các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu.
- Cơ quan hành chính và tổ chức đoàn thể: Cán bộ chính quyền địa phương, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tham khảo để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và giám sát đầu tư cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt trưng cầu ý dân với việc lấy ý kiến nhân dân như thế nào?
Luận án chỉ ra ba điểm khác biệt cơ bản:
- Về hình thức thể hiện: Trưng cầu ý dân bắt buộc phải thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu kín (thể hiện ý chí đồng ý hoặc không đồng ý); trong khi lấy ý kiến nhân dân được thực hiện qua phát biểu tại hội nghị, tọa đàm hoặc gửi văn bản đóng góp.
- Về chủ thể tham gia: Trưng cầu ý dân chỉ dành cho công dân có quyền bầu cử theo luật định; trong khi lấy ý kiến nhân dân mở rộng cho mọi cá nhân quan tâm đóng góp ý kiến.
- Về giá trị pháp lý: Kết quả trưng cầu ý dân có giá trị bắt buộc thi hành đối với cơ quan nhà nước; còn kết quả lấy ý kiến nhân dân chỉ mang tính chất tham khảo, việc tiếp thu phụ thuộc vào quyết định của cơ quan soạn thảo.
2. Tại sao luận án coi bầu cử và bãi miễn đại biểu dân cử là hình thức giao thoa giữa DCTT và dân chủ đại diện?
Về mặt bản chất, bầu cử là phương thức tạo lập nên các cơ quan đại diện để thay mặt nhân dân quản lý nhà nước (dân chủ đại diện). Tuy nhiên, hành vi cử tri tự mình cầm lá phiếu trực tiếp lựa chọn người đại diện hoặc trực tiếp bỏ phiếu bãi nhiệm đại biểu khi họ không còn xứng đáng là sự thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể quyền lực nhà nước. Do đó, dưới góc độ quy trình ra quyết định chính trị và kiểm soát quyền lực, hành vi bỏ phiếu bầu cử và bãi nhiệm mang tính chất của DCTT.
3. Điểm mới quan trọng về dân chủ trực tiếp trong Hiến pháp năm 2013 được luận án phân tích là gì?
Điều 6 Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam ghi nhận DCTT là một phương thức thực hiện quyền lực nhà nước độc lập bên cạnh dân chủ đại diện. Quy định này không chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật lập hiến mà xác lập nền tảng lý luận và pháp lý vững chắc khẳng định chủ quyền nhân dân, đặt ra yêu cầu phải thể chế hóa bằng các đạo luật cụ thể để nhân dân trực tiếp hành động thực hiện quyền lực.
4. Những hạn chế cơ bản của dân chủ trực tiếp được chỉ ra trong luận án là gì?
Luận án nêu rõ 6 hạn chế chính của DCTT: (1) Khó tổ chức hiệu quả ở quy mô quốc gia rộng lớn và dân số đông; (2) Tốn kém chi phí và thời gian, dễ gây mệt mỏi cử tri; (3) Nguy cơ rơi vào hình thức nếu trình độ dân trí chưa cao; (4) Nguy cơ xâm hại quyền lợi của nhóm thiểu số trước ý kiến đa số; (5) Thiếu địa chỉ chịu trách nhiệm cá nhân rõ ràng đối với các quyết định sai lầm của tập thể cử tri; (6) Người dân có thể thiếu chuyên môn sâu khi quyết định các vấn đề chính sách phức tạp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Dung là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về cơ sở lý luận, lịch sử lập hiến và thực trạng pháp luật DCTT tại Việt Nam dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Tác giả đã làm rõ các phương thức DCTT cơ bản, phân tích sâu sắc các ưu điểm và hạn chế trong mối quan hệ với dân chủ đại diện, đồng thời chỉ ra các bất cập trong việc thực thi quyền hiến định của nhân dân. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp lập pháp khả thi nhằm tiếp tục thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, góp phần hoàn thiện thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.