Chương 1: tác giả đã tập trung làm rõ lý luận chung về chế độ bầu cử và chế độ bầu cử đại biểu HĐND; chương 2: luan an 18 trên cơ sở khẳng định vai trò quan trọng của HĐND trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân tác giả Vũ Thị Loan đã phân tích chế độ bầu cử đại biểu HĐND ở nước ta về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử và bầu cử đại biểu HĐND; những quy định của pháp luật bầu cử đại biểu HĐND ở Việt Nam; thực trạng về nhận thức, hành vi của cử tri và các cơ quan tổ chức tham gia bầu cử đại biểu HĐND. Bằng việc phân tích thực trạng chế độ bầu cử HĐND ở nước ta trong thời gian qua ở chương 2, chương 3 tác giả đã nêu một số quan điểm và đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới và hoàn thiện chế độ bầu cử HĐND ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Phan Trung Tuấn (2011), Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII và Hội đồng nhân dân các cấp với xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, Báo dangcongsanvietnam. Bài viết đã tổng kết công tác bầu cử QH khoá XII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ ( 2004 - 2009).
Từ thực trạng những thành tựu đạt được và những hạn chế của hoạt động này, tác giả đưa ra những giải pháp hoàn thiện và nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác bầu cử này đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Oxfam (2015), “Thúc đẩy sự tham gia của nữ giới trong quy trình bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân Việt Nam”. Ấn phẩm đặc biệt của Tổ chức phi chính phủ Oxfam tại Việt Nam cho thấy, trong những nhiệm kỳ qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm tăng số lượng và chất lượng nữ đại biểu dân cử các cấp. Tuy nhên, kết quả đạt được không như chỉ tiêu đề ra và chưa phản ánh bình đẳng thực chất cơ quan dân cử.
Tỉ lệ nữ đại biểu QH giảm qua ba nhiệm kỳ liên tiếp và tỉ lệ nữ đại biểu HĐND các cấp tăng chậm. Biên soạn cuốn tài liệu “Thúc đẩy sự tham gia của nữ giới trong quy trình bầu cử Đại biểu QH và Đại biểu HĐND ở Việt Nam” đã trình bày những cơ sở pháp lý về việc bầu cử QH và đại biểu HĐND, quy trình bầu cử QH và đại biểu HĐND ở Việt Nam với mục tiêu: góp phần thực hiện hiệu quả Luật bầu cử 2015, thúc đẩy sự tham gia bình đẳng của nữ giới và nam giới trong quy trình bầu cử, tăng số lượng, chất lượng nữ đại biểu QH khoá XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Vũ Công Giao, Đặng Minh Tuấn (2016), “Hỏi đáp về luật bầu cử Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, luan an 19 2016. Với 139 trang, hai tác giả đã tập trung trình bày những nội dung cơ bản của Luật bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND, thể hiện dưới hình thức hỏi - đáp, có lồng ghép giới thiệu những kiến thức cơ bản về vị trí, chức năng của QH và HĐND với tính chất là cơ quan của QH và HĐND với tính chất là cơ quan quyền lực nhà nước, đồng thời làm rõ những nội dung mới của Luật bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND năm 2015, những tình huống thường gặp khi tổ chức cuộc bầu cử và cách thức giải quyết.
Ngoài ra, có thể kể đến tác giả Trần Ngọc Đường với một loạt các bài viết và các công trình nghiên cứu như: “Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; “Bàn về quyền con người quyền công dân”, NXB Chính trị Quốc gia, 2004; “Bàn về thực trạng và nhu cầu pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và pháp luật về quyền con người theo Nghị quyết 48 của Bộ chính trị”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, 2010, Số 14(175), tr.5-1; "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ thể hiện xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ nội dung của Hiến pháp năm 2013, tạp chí Khoa học pháp lý, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 2013, Số 02(81), tr. Dù không đề cập một cách trực tiếp về bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhưng khi bàn về các vấn đề như bộ máy nhà nước, quyền công dân tác giả đã ít nhiều nói đến tầm quan trọng của việc quyền lực của công dân trong bầu cử, trong kiểm tra và giám sát để xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và vai trò của việc phát huy dân chủ trong bộ máy nhà nước ta. Lê Trọng Hanh, Nguyễn Mạnh Hùng (2021): “Tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Tuyên giáo, 4/2021.
Các tác giả khẳng định bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND các cấp là các cuộc bầu cử được tiến hành dựa trên hệ thống thiết chế pháp luật vững chắc. Các quy trình tổ chức đều được xây dựng một cách chặt chẽ, khoa học, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân cũng như phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Việc tham gia vào hoạt động bầu cử của luan an 20 công dân dù là với tư cách là cử tri đi bầu cử hay trực tiếp tham gia ứng cử đều không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân; bản thân các cử tri đều có thể tự quyết định lựa chọn những đại biểu xứng đáng đại diện cho quyền lợi của mình và thực hiện các nhiệm vụ của đất nước và thay mình quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc. Qua tham khảo các công trình nêu trên cho thấy, theo cách tiếp cận ở những góc độ khác nhau, các nghiên cứu về bầu cử nói chung và bầu cử HĐND là vô cùng cần thiết.
Một số nội dung, quan điểm trong các công trình là những tài liệu có giá trị tham khảo cho luận án. Các công trình nghiên cứu về thực trạng, giải pháp bầu cử, bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam. Bùi Xuân Đức (2001), “Pháp luật bầu cử: một số vấn đề cần hoàn thiện”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp. Trên cơ sở trình bày những cơ sở pháp lý của nhà nước về hoạt động bầu cử, đặc biệt trong đó, bài viết đã chú trọng phân tích khá cụ thể về những hạn chế của chế độ bầu cử hiện hành và đưa ra một số giải pháp khắc phục sự bất cập trong pháp luật bầu cử ở nước ta ở một số vấn đề như về đơn vị bầu cử, về tính đại diện, về cách thức xác định kết quả bầu cử.
Lê Vương Long (2004), “Góp phần hoàn thiện quy trình bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở nước ta hiện nay”, tạp chí Luật học, 4/2004. Bài viết đã nêu lên những vấn đề cơ bản có liên quan đến quy trình bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam đó là quyền bầu cử của cử tri trong trường hợp cử tri thay đổi nơi cư trú; ai được quyền ghi tên vào danh sách cử tri; xử lý trường hợp nhiều người có số phiếu bằng nhau; vấn đề kê khai tài sản của ứng cử viên đại biểu HĐND; vấn đề vận động bầu cử và vấ đề lập danh sách đại biểu được bầu cho các đơn vị bầu cử. Nguyễn Đăng Dung (2006), “Sự hạn chế quyền lực Nhà nước”, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2006. Cuốn sách bàn về cách thức hướng đến sự hạn chế đối với quyền lực nhà nước.
Trong đó, tác giả cũng chỉ ra rằng, bầu cử chính là phương thức quan trọng để ngăn ngừa sự độc đoán, chuyên quyền đối với các thiết chế quyền lực Nhà nước. Đây cũng là lý do tại sao các cơ quan nhà nước cũng như các đại biểu do nhân dân bầu ra phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. luan an 21 Trần Thanh Hương (2006), “Ý chí của nhân dân trong bầu cử và một vài ý kiến góp phần bảo đảm ý chí của nhân dân trong bảo đảm bầu cử ở nước ta”, tạp chí Khoa học pháp luật, 4/ 2006. Tác giả bài viết khẳng định ý chí nhân dân là bản chất của dân chủ bầu cử.
Ý chí nhân dân là vấn đề quan trọng của bầu cử bởi chỉ khi bầu cử mang ý chí nhân dân thì ý nghĩa dân chủ đích thực của nó mới đạt được. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua bầu cử để lựa chon những đại biểu xứng đáng vào các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, để bầu cử thực sự dân chủ, bảo đảm ý chí nhân dân và góp phần hoàn thiện các nguyên tắc bầu cử ở nước ta, cần hoàn thiện nhiều hơn nữa về mặt nội dung của pháp luật về bầu cử và phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề. Trần Thanh Hương (2007), “Hiệp thương và tác động của hiệp thương đến việc phát huy tính tích cực của công dân trong việc thực hiện quyền bầu cử”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4/2007.
Tác giả Trần Thanh Hương đã có một bài viết rất sâu sắc về tác động của hoạt động hiệp thương trong bầu cử và ảnh hưởng, tác động của hiệp thương đối với công dân trong việc thực hiện quyền bầu cử. Đây là một trong các giai đoạn thủ tục bầu cử, là quá trình cơ cấu thành phần, chọn lựa, sàng lọc và phân bổ số ứng cử viên, thống nhất danh sách đại biểu cho cử tri bầu và vận động tranh cử của ứng cử viên (tiếp xúc cử tri) trong hoạt động bầu cử QH và HĐND. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra những ảnh hưởng của quy trình hiệp thương giới thiệu người ứng cử đến quyền bầu cử và ứng cử của công dân. Trên cơ sở phân tích những ảnh hưởng đó, tác giả đã đưa ra những kiến nghị có ý nghĩa thiết thực nhằm đổi mới hiệp thương theo hướng dân chủ hơn để phát huy một cách tối đa tính tích cực của công dân trong thực hiện quyền bầu cử.
An Khánh (2007), “Bầu cử: bầu ai và ai bầu”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 23, 5/2017.