Tổng quan luận án
Bầu cử là phương thức căn bản để nhân dân thực hiện quyền lực chính trị và quyền làm chủ thông qua việc ủy quyền cho các đại biểu đại diện trong bộ máy nhà nước. Tại Việt Nam, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp giữ vị trí quan trọng trong việc hình thành cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Mặc dù hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các nhiệm kỳ qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thực tiễn tổ chức vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập về quy trình hiệp thương, cơ cấu đại biểu, chất lượng người ứng cử và sự tham gia của cử tri. Việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực trạng bầu cử đại biểu HĐND các cấp là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
| Tiêu chí |
Thông tin xác thực từ văn bản |
| Tên đề tài |
Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam hiện nay |
| Tác giả |
Trần Thị Hoa Lê |
| Người hướng dẫn khoa học |
GS. TS. Dương Xuân Ngọc |
| Cơ sở đào tạo |
Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam |
| Ngành & Mã số |
Chính trị học (Mã số: 9 31 02 01) |
| Năm bảo vệ |
2020 |
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận về bầu cử và bầu cử đại biểu HĐND các cấp; đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động này tại Việt Nam qua các nhiệm kỳ gần đây; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu HĐND các cấp trong những nhiệm kỳ tới.
Để hoàn thành mục đích trên, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ ra những kết quả đã đạt được và xác định khoảng trống tri thức cần giải quyết.
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về HĐND các cấp và bầu cử đại biểu HĐND các cấp.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam, chỉ rõ các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam trong những nhiệm kỳ tới.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp.
- Phạm vi không gian: Hoạt động bầu cử đại biểu HĐND ở ba cấp chính quyền địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) trên phạm vi cả nước; chọn địa bàn thành phố Hà Nội làm mẫu điểm điều tra xã hội học.
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu thực tiễn bầu cử đại biểu HĐND các cấp qua nhiệm kỳ 2011 – 2016 và nhiệm kỳ 2016 – 2021 (từ năm 2011 đến thời điểm hoàn thành năm 2020).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai nhóm chính:
Nhóm thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu lý luận về bầu cử và bầu cử đại biểu cơ quan dân cử:
- Các nghiên cứu quốc tế: Nhóm tác giả Mark Anstey và cộng sự (1998) nghiên cứu vai trò của việc lựa chọn chế độ bầu cử phù hợp để quản lý và giải quyết xung đột; Denis Petit (2000) phân tích các chuẩn mực giải quyết tranh chấp bầu cử; Andrew Reynolds, Ben Reilly, Andrew Ellis và cộng sự (2005) trong cẩm nang của International IDEA tổng kết cấu trúc các hệ thống bầu cử tại 213 quốc gia và vùng lãnh thổ; Báo cáo của Liên hợp quốc (2005) đề cập đến việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong bầu cử; Andrew Kaplan (2005) luận giải tính minh bạch trong quản trị bầu cử; Nghiên cứu của Knight (2005) tại Mỹ về cải cách và xây dựng niềm tin bầu cử; Guy S. Goodwin-Gill (2006) phân tích các tiêu chuẩn về bầu cử tự do và công bằng theo Tuyên bố của Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU, 1994); Alan Wall và cộng sự (2006) làm rõ thiết kế quản lý bầu cử; Judith Large và Timothy D. Sisk (2006) nghiên cứu vai trò của chế độ bầu cử đối với quản trị dân chủ; David Beetham (2006) xác lập 5 tiêu chí của nghị viện dân chủ đại diện.
- Các nghiên cứu trong nước: Tác giả Vũ Hồng Anh (1997) phân tích chế độ bầu cử của 15 quốc gia; Giáo trình của Khoa Chính trị học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2009) trình bày đặc điểm thể chế bầu cử Việt Nam; Lưu Văn Quảng (2009) so sánh hệ thống bầu cử Anh, Mỹ, Pháp; Vũ Văn Nhiêm (2009, 2013) phân tích chế độ bầu cử trong nhà nước pháp quyền; Bùi Hải Thiêm (2011) so sánh hệ thống bầu cử tỷ lệ và hệ thống đa số; Thái Vĩnh Thắng và Vũ Hồng Anh (2016) hệ thống hóa các nguyên tắc và trình tự bầu cử; Vũ Văn Phúc (2016) và Nguyễn Quốc Sửu (2016) phân tích 4 nguyên tắc bầu cử và quá trình hoàn thiện pháp luật bầu cử Việt Nam.
- Các nghiên cứu chuyên biệt về HĐND: NXB Chính trị Quốc gia (2001) tập hợp quan điểm Hồ Chí Minh về Quốc hội và HĐND; Đặng Đình Tân (2006) nghiên cứu cơ chế nhân dân giám sát cơ quan dân cử; Vũ Thị Loan (2010) phân tích việc hoàn thiện chế độ bầu cử HĐND; Phan Trung Tuấn (2011) và Oxfam (2015) khảo cứu về xây dựng nhà nước pháp quyền và thúc đẩy nữ giới tham gia cơ quan dân cử; Vũ Công Giao và Đặng Minh Tuấn (2016) luận giải các điểm mới của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015; các nghiên cứu của Trần Ngọc Đường (2000, 2004, 2010, 2013) về bộ máy nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân; Lê Trọng Hanh và Nguyễn Mạnh Hùng (2021) khẳng định tính chất đại diện ý chí của nhân dân trong bầu cử.
Nhóm thứ hai bao gồm các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp bầu cử ở Việt Nam: Bùi Xuân Đức (2001), Lê Vương Long (2004), Nguyễn Đăng Dung (2006), Trần Thanh Hương (2006, 2007), An Khánh (2007), Lưu Đức Quang (2007), Lưu Văn Quảng (2007), Phan Xuân Sơn (2007), Phan Văn Ngọc (2010), Trần Ngọc Nhẫn (2010), Hồng Ngọc (2010), Kỷ yếu Hội thảo do Nguyễn Đăng Dung chủ nhiệm (2010), Nguyễn Minh Đoan (2011), Thái Vĩnh Thắng (2011, 2013, 2014), Nguyễn Thị Phương (2012), Vũ Công Giao (2013).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định:
- Thứ nhất, các công trình đã công bố phần lớn tiếp cận dưới góc độ luật học hoặc nghiên cứu gộp chung bầu cử Quốc hội với bầu cử HĐND, chưa có công trình chuyên khảo nghiên cứu độc lập, chuyên sâu và có hệ thống dưới góc độ Chính trị học về bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Thứ hai, nhiều nội dung nghiên cứu còn phân tán, rời rạc, chưa thống nhất về nhận thức đối với quy trình hiệp thương, mối quan hệ giữa cơ cấu và tiêu chuẩn chất lượng đại biểu.
- Thứ ba, thiếu vắng các nghiên cứu tổng thể kết hợp giữa khung lý thuyết chính trị học với dữ liệu điều tra thực nghiệm xã hội học để xây dựng hệ giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu HĐND các cấp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Luận án vận dụng các lý thuyết chính trị học chuyên ngành:
- Lý thuyết về bầu cử và hệ thống bầu cử.
- Lý thuyết về dân chủ chính trị và dân chủ đại diện.
- Lý thuyết về chủ quyền nhân dân và sự ủy quyền quyền lực (tư tưởng của John Locke, Montesquieu).
- Lý thuyết về nhà nước pháp quyền, quyền con người và quyền công dân.
Về phương pháp luận, luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai theo từng chương:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và phân tích tài liệu (sử dụng trong Chương 1 để đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu).
- Phương pháp phân tích hệ thống, kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp so sánh (sử dụng trong Chương 2 để xây dựng khung lý thuyết về HĐND, đại biểu HĐND và chất lượng bầu cử).
- Phương pháp logic - lịch sử, cấu trúc - chức năng, phương pháp thống kê và phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (sử dụng trong Chương 3 để đánh giá thực trạng). Trong đó, tác giả tiến hành điều tra khảo sát xã hội học thực tế tại địa bàn thành phố Hà Nội với quy mô 480 phiếu khảo sát cử tri.
- Phương pháp phân tích tổng hợp, lý thuyết hệ thống và so sánh (sử dụng trong Chương 4 để luận giải và đề xuất hệ thống giải pháp).
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu bao gồm:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945; Luật Tổ chức HĐND và UBND các năm 1983, 1994, 2003; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015.
- Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và Bộ Chính trị về công tác bầu cử.
- Các báo cáo tổng kết bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 và 2016 – 2021 của Hội đồng Bầu cử Quốc gia và Ủy ban bầu cử các địa phương.
- Dữ liệu khảo sát thực nghiệm 480 phiếu điều tra cử tri tại thành phố Hà Nội do tác giả trực tiếp thực hiện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 thực hiện tổng thuật và đánh giá chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế về bầu cử và bầu cử đại biểu HĐND. Nội dung chương được chia thành 3 phần chính:
- Điểm luận các công trình lý luận quốc tế về các mô hình bầu cử (quân chủ, cộng hòa tổng thống, hỗn hợp), hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ và đa số, các chuẩn mực quốc tế về bầu cử tự do, công bằng và minh bạch. Đồng thời điểm luận các công trình lý luận trong nước về thể chế bầu cử, 4 nguyên tắc cơ bản (phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín) và bản chất dân chủ của bầu cử ở Việt Nam.
- Đánh giá các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp bầu cử đại biểu HĐND, trong đó làm rõ các khía cạnh: quy trình hiệp thương giới thiệu người ứng cử của Mặt trận Tổ quốc, công tác vận động bầu cử, tiếp xúc cử tri, xác định kết quả bầu cử, cơ cấu thành phần và chất lượng đại biểu dân cử.
- Khẳng định các giá trị khoa học kế thừa từ các nghiên cứu đi trước và xác định rõ 3 khoảng trống nghiên cứu chính mà luận án tập trung giải quyết: xây dựng khung lý thuyết toàn diện về bầu cử đại biểu HĐND; đánh giá thực trạng dựa trên chứng cứ thực nghiệm nhiệm kỳ 2011 – 2016 và 2016 – 2021; đề xuất hệ giải pháp đồng bộ gắn với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Chương 2 làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng về tổ chức chính quyền địa phương và bầu cử đại biểu HĐND:
- Vị trí, tính chất pháp lý của HĐND: Theo Điều 113 Hiến pháp năm 2013, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Tính chất pháp lý của HĐND thể hiện ở hai phương diện thống nhất biện chứng: tính chất đại diện duy nhất ở địa phương và vị trí cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
- Chức năng của HĐND: Luận án phân tích 2 chức năng cơ bản là chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương (kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngân sách, nhân sự chính quyền) và chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết HĐND.
- Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức: Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định thẩm quyền tập trung nhiều ở cấp tỉnh và giảm dần xuống cấp huyện, xã; phân định rõ giữa chính quyền đô thị và nông thôn. Quy định thành lập Ban đô thị ở các thành phố trực thuộc trung ương; nâng số lượng đại biểu HĐND thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh từ 95 lên 105 đại biểu (Điều 39); xác định số lượng Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, huyện là 2 người, cấp xã là 1 người hoạt động chuyên trách.
- Địa vị pháp lý của đại biểu HĐND: Phân tích quyền chất vấn (Chủ tịch, thành viên UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND), quyền kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm, quyền tiếp cận thông tin và quyền miễn trừ bắt giữ; cùng trách nhiệm tiếp xúc cử tri (ít nhất 1 lần/năm báo cáo cử tri), tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo.
- Lý luận về bầu cử và chất lượng bầu cử: Luận án xác định khái niệm bầu cử, hệ thống bầu cử, 4 nguyên tắc bầu cử và xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng bầu cử gồm: mức độ thực hiện các nguyên tắc pháp lý; mức độ tham gia chủ động của cử tri; chất lượng đại biểu được bầu; hiệu quả tổ chức của bộ máy phụ trách bầu cử.
Chương 3: Thực trạng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam
Chương 3 đi sâu phân tích thực tiễn công tác bầu cử đại biểu HĐND các cấp qua hai nhiệm kỳ 2011 – 2016 và 2016 – 2021:
- Thực trạng xác lập quy định pháp lý: Hệ thống pháp luật về bầu cử ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là sự ra đời của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015 (thông qua ngày 25/6/2015, có hiệu lực từ 01/9/2015) đã tạo khung pháp lý thống nhất cho việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trong cùng một ngày.
- Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của chính quyền: Cấp ủy Đảng các cấp bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện về phương hướng nhân sự, định hướng cơ cấu kết hợp với tiêu chuẩn; chính quyền các cấp bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, an ninh trật tự cho các kỳ bầu cử.
- Thực trạng sự tham gia của công dân và vai trò của tổ chức bầu cử, Mặt trận Tổ quốc: Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ trì tốt 3 hội nghị hiệp thương để thỏa thuận cơ cấu, lập danh sách sơ bộ và danh sách chính thức những người ứng cử; tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu tại các kỳ bầu cử đạt trên 98% - 99%.
- Thực trạng công tác tuyên truyền, vận động bầu cử và quy trình thủ tục: Hoạt động tuyên truyền được triển khai đa dạng qua đài phát thanh, truyền hình, báo chí, loa truyền thanh cơ sở; các hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử được tổ chức theo đúng quy định.
- Hạn chế và bất cập:
- Mâu thuẫn giữa cơ cấu thành phần (tỷ lệ nữ, trẻ, ngoài Đảng, tái cử) và chất lượng đại biểu, đôi khi cơ cấu lấn át tiêu chuẩn chuyên môn.
- Tỷ lệ người tự ứng cử đại biểu HĐND trúng cử còn rất thấp.
- Công tác tiếp xúc cử tri để vận động bầu cử ở một số nơi còn mang tính hình thức, thời gian ngắn.
- Tồn tại hiện tượng bỏ phiếu thay, đi bầu hộ làm suy giảm tính trực tiếp của lá phiếu.
- Mức độ hiểu biết của một bộ phận cử tri về vị trí, chức năng của HĐND và chương trình hành động của ứng cử viên còn hạn chế.
- Kết quả khảo sát xã hội học (480 phiếu tại Hà Nội): Khảo sát thực nghiệm chỉ ra tỷ lệ cử tri tham gia đầy đủ các buổi tiếp xúc cử tri trước bầu cử còn khiêm tốn; phương tiện tiếp cận thông tin chủ yếu vẫn qua loa truyền thanh và niêm yết danh sách; nhận thức về HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương chưa đồng đều.
- Phân tích nguyên nhân: Luận án chỉ rõ nguyên nhân khách quan (mặt trái cơ chế thị trường, đặc thù địa bàn) và nguyên nhân chủ quan (nhận thức của cử tri, kỹ năng của cán bộ phụ trách bầu cử, quy định pháp luật về hiệp thương và vận động bầu cử còn điểm chưa linh hoạt).
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp những nhiệm kỳ tới
Chương 4 đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu HĐND các cấp trong thời gian tới:
- Đổi mới, hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu HĐND các cấp: Rà soát, sửa đổi các quy định về quy trình hiệp thương giới thiệu người ứng cử; hoàn thiện quy định về số dư người ứng cử tại các đơn vị bầu cử; bảo đảm sự thống nhất giữa Luật Bầu cử và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý của chính quyền các cấp: Nâng cao năng lực lãnh đạo công tác nhân sự theo hướng coi trọng phẩm chất, trình độ, năng lực thực tế; cấp ủy không can thiệp sâu làm hạn chế tính chủ động của cử tri; chính quyền bảo đảm hạ tầng kỹ thuật và giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo.
- Nâng cao ý thức, trách nhiệm của công dân; phát huy vai trò của các tổ chức bầu cử, Mặt trận Tổ quốc: Tăng cường giáo dục ý thức công dân về quyền và nghĩa vụ bầu cử; chấm dứt triệt để tình trạng bỏ phiếu thay; đổi mới quy trình hiệp thương của Ủy ban MTTQ các cấp để mở rộng dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho người tự ứng cử.
- Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động bầu cử: Đa dạng hóa phương thức tuyên truyền qua nền tảng số và mạng xã hội bên cạnh các kênh truyền thống; tăng cường các cuộc đối thoại trực tiếp giữa người ứng cử và cử tri; công khai minh bạch chương trình hành động và lý lịch trích ngang của ứng cử viên.
- Hoàn thiện quy trình, thủ tục bầu cử HĐND các cấp: Cải tiến khâu lập và niêm yết danh sách cử tri; tổ chức linh hoạt các buổi tiếp xúc cử tri vận động bầu cử; kiểm soát chặt chẽ quá trình bỏ phiếu, kiểm phiếu và công bố kết quả bầu cử nhằm bảo đảm tính khách quan, chính xác.
- Kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các giá trị, kinh nghiệm quốc tế về bầu cử: Nghiên cứu, vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về quản lý bầu cử chuyên nghiệp, kỹ thuật kiểm phiếu, công nghệ hỗ trợ bầu cử phù hợp với điều kiện chính trị - xã hội và lịch sử cụ thể của Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có các đóng góp:
- Hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các lý thuyết chính trị học hiện đại về bầu cử, dân chủ đại diện và ủy quyền quyền lực.
- Xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về vị trí, tính chất pháp lý của HĐND, quy trình bầu cử và xác lập bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bầu cử đại biểu HĐND các cấp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp:
- Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức bầu cử đại biểu HĐND qua hai nhiệm kỳ 2011 – 2016 và 2016 – 2021; chỉ rõ các tồn tại như áp lực cơ cấu nhân sự, tình trạng bỏ phiếu hộ, hạn chế trong tiếp xúc cử tri và tỷ lệ người tự ứng cử trúng cử thấp.
- Cung cấp nguồn dữ liệu điều tra xã hội học thực nghiệm (480 phiếu tại Hà Nội) phản ánh nhận thức, hành vi của cử tri và sự tác động của các nhân tố đến chất lượng bầu cử.
- Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng cao nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, đổi mới quy trình hiệp thương và vận động bầu cử cho các nhiệm kỳ tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Mẫu khảo sát điều tra xã hội học tập trung chủ yếu tại địa bàn thành phố Hà Nội (đại diện cho mô hình đô thị đặc biệt), chưa mở rộng điều tra quy mô lớn tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo.
- Dữ liệu thực tiễn tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020 (hai nhiệm kỳ 2011 – 2016 và 2016 – 2021).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi điều tra xã hội học đa vùng miền để so sánh hành vi cử tri giữa khu vực nông thôn, đô thị và miền núi.
- Nghiên cứu tác động của việc thực hiện mô hình tổ chức chính quyền đô thị (thí điểm không tổ chức HĐND ở một số cấp quận, phường) đến quyền đại diện và hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp trong giai đoạn sau năm 2021.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Chính trị học, Luật học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Quản lý công tại các trường đại học, học viện.
- Cán bộ làm công tác tham mưu, hoạch định chính sách tại Quốc hội, HĐND, UBND các cấp, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Tổ chức cấp ủy các cấp.
- Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Các phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm: Khung lý thuyết và tiêu chí chất lượng bầu cử tại Chương 2; Đánh giá thực trạng hiệp thương và dữ liệu điều tra xã hội học tại Chương 3; Hệ thống 6 giải pháp đổi mới quy trình bầu cử tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
-
Mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào?
Luận án làm rõ cơ sở lý luận về bầu cử đại biểu HĐND, đánh giá thực trạng nhiệm kỳ 2011 – 2016 và 2016 – 2021 trên phạm vi cả nước (kết hợp khảo sát 480 phiếu tại Hà Nội), từ đó đề xuất hệ giải pháp nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu HĐND các cấp trong những nhiệm kỳ tới.
-
Tính chất pháp lý và chức năng của HĐND được luận giải ra sao?
Theo Hiến pháp năm 2013 (Điều 113), HĐND mang hai tính chất pháp lý gắn kết biện chứng: là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương và là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. HĐND thực hiện 2 chức năng cơ bản là quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật.
-
Theo văn bản luận án, cơ cấu đại biểu HĐND có những điều chỉnh pháp lý cụ thể nào?
Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật sửa đổi năm 2019, số lượng đại biểu HĐND thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được tăng từ 95 lên 105 đại biểu; quy định Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện (2 người) và cấp xã (1 người) hoạt động chuyên trách; thành lập Ban đô thị tại các thành phố trực thuộc trung ương.
-
Thực trạng bầu cử đại biểu HĐND qua khảo sát của luận án chỉ ra những bất cập chính nào?
Luận án chỉ ra các hạn chế gồm: việc xử lý mối quan hệ giữa cơ cấu và tiêu chuẩn đại biểu đôi khi còn nặng về cơ cấu; tỷ lệ người tự ứng cử trúng cử còn thấp; hoạt động tiếp xúc cử tri vận động bầu cử còn mang tính hình thức; vẫn còn hiện tượng bỏ phiếu thay; nhận thức của một bộ phận cử tri về HĐND chưa đầy đủ.
-
Luận án đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm nào?
Luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp: hoàn thiện pháp luật bầu cử; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; nâng cao ý thức công dân và vai trò của Mặt trận Tổ quốc; đổi mới công tác tuyên truyền, vận động bầu cử; hoàn thiện quy trình, thủ tục bầu cử; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Trần Thị Hoa Lê là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Chính trị học, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chế độ bầu cử và tổ chức chính quyền địa phương trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc kết hợp phân tích văn bản pháp lý và dữ liệu điều tra thực nghiệm 480 phiếu khảo sát tại Hà Nội, luận án đã đánh giá toàn diện thành tựu, bất cập trong quy trình bầu cử đại biểu HĐND qua hai nhiệm kỳ 2011 – 2016 và 2016 – 2021. Hệ thống 6 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào việc hoàn thiện thể chế bầu cử và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương tại Việt Nam.