phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương. 10 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cơ quan đại diện của nhân dân 1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về cơ quan đại diện của nhân dân Cơ quan đại diện là một bộ phận không thể thiếu trong tổ chức chính quyền của Nhà nước vô sản.
Việc nghiên cứu về cơ quan đại diện có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xây dựng chính quyền. Công xã Pari là một thực tiễn sinh động làm sáng tỏ quan điểm Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật. Công xã Pari đã xây dựng được “một mẫu hình phác thảo” cho việc xây dựng chính quyền Nhà nước vô sản. Công xã Pari đã xoá bỏ chế độ đại nghị tư sản, thành lập ra hệ thống cơ quan đại diện mới.
Hội đồng công xã Pari là cơ quan quyền lực cao nhất, bao gồm các uỷ viên xuất thân chủ yếu từ thành phần công nhân, do nhân dân lao động bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Các uỷ viên này có thể bị bãi miễn nếu họ không còn uy tín hoặc không còn khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Công xã Pari đã xác lập một chế độ dân chủ mới, trong đó đã đề ra và thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động tham gia vào quản lý nhà nước. Đặc điểm của công xã Pari cho thấy đây là mô hình nhà nước vô sản, mặc dù mô hình nhà nước này chưa thực sự hoàn chỉnh.
Công xã Pari, lần đầu tiên đã xoá bỏ chế độ đại nghị tư sản, thành lập ra hệ thống cơ quan đại diện mới, cơ quan đại diện này theo nghĩa của nó vừa là cơ quan lập pháp, vừa là cơ quan hành pháp. Việc xuất hiện hình thức công xã 11 z Pari có ý nghĩa rất lớn, làm phong phú thêm lý luận Mác - Lênin nói chung và lý luận về Nhà nước và pháp luật nói riêng, đặc biệt là để xây dựng một học thuyết hoàn chỉnh về hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa. Và một lần nữa, khi nghiên cứu về phong trào công nhân, Lênin đã phát hiện ra hình thức nhà nước Xô Viết và coi đó là mầm mống của một hình thức có thể sử dụng để tổ chức nhà nước vô sản ở Nga. Hình thức nhà nước Xô viết là hình thức được sử dụng để tổ chức và thực hiện chính quyền của giai cấp vô sản Nga và các nước Cộng hoà khác ở Cap-ca-zơ, vùng Ban tích; sau này trở thành hình thức của Nhà nước Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết.
Xô Viết xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc tổng bãi công của công nhân thành phố Petrograt năm 1905, với tư cách là hội đồng đại biểu công nhân để đấu tranh đòi lợi ích chính trị và kinh tế cho giai cấp. Trong quá trình lãnh đạo và xây dựng chính quyền Xô viết, Lênin đặc biệt nhấn mạnh quyền tham gia quản lý nhà nước của người lao động, coi: “Sự tham gia của người lao động vào chính quyền như là mục đích của chính quyền Xô viết. Và theo Người, việc thu hút được mọi người lao động tham gia vào quản lý là một trong những ưu thế quyết định của nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa v. Vì rằng, một thiểu số người tức là Đảng không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội”[33].
Hình thức nhà nước dân chủ xuất hiện sau chiến tranh thế giới thứ II trong một số nước ở châu Âu như: Anbani, Bungari, Cộng hoà dân chủ Đức và ở châu Á như: Việt Nam, Trung Quốc,…Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của hình thức nhà nước dân chủ nhân dân là một thực tiễn sinh động để khẳng định sự đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin về sự phong phú và đa dạng của các hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hình thức này phù hợp với tình hình cách mạng của các nước sau chiến tranh thế giới thứ II. Vì vậy, đã góp phần tăng cường sức mạnh và phát huy hiệu lực của các Nhà nước xã hội chủ nghĩa 12 z dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Cách mạng thành công nhiều nước xã hội chủ nghĩa mới ra đời, hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Hình thức nhà nước dân chủ nhân dân ra đời với những đặc điểm riêng, phù hợp với tình hình lịch sử, đáp ứng được yêu cầu cách mạng trong thời kỳ mới. Tóm lại, xuất phát từ bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là một Nhà nước dân chủ nên việc tổ chức và hoạt động của BMNN xã hội chủ nghĩa luôn đảm bảo sự tập trung thống nhất quyền lực. Ở các nước xã hội chủ nghĩa tất cả quyền lực đều thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra, mà tập trung nhất là thông qua cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của đất nước. Các cơ quan nhà nước đều bắt nguồn từ cơ quan quyền lực Nhà nước và phải chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước, chịu trách nhiệm và báo cáo trước cơ quan quyền lực đó.
Chính vì lẽ đó, V.Lênin khi nói về cơ quan đại diện đã khẳng định: “Chúng ta không thể quan niệm một nền dân chủ, dẫu là dân chủ vô sản, mà lại không có cơ quan đại diện”[33]. Sự xuất hiện và tồn tại của cơ quan đại diện là một tất yếu khách quan do yêu cầu của cách mạng, đặc biệt là cách mạng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của đông đảo quần chúng vào hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cơ quan đại diện của nhân dân. Năm 1911 Nguyễn Ái Quốc đã rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.
Người đã đi nhiều nơi trên thế giới như châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Á; tìm hiểu và nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. Trong khi tìm hiểu, nghiên cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý xem xét những vấn đề về chính quyền nhà nước, vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Đánh giá về cách mạng Mỹ, Người đã chỉ rõ: 13 z “Tuy Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ khẳng định: Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn sung sướng. Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân thì dân chúng đập bỏ chính phủ ấy đi và gây nên chính phủ khác nhưng thực chất bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mạng, ai đụng đến Chính phủ”[19].
Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc kết luận, cách mạng Mỹ là “cách mạng tư bản”, tuyên bố trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ tuy phản ánh quyền lực tối cao của của nhân dân trong việc xây dựng chính quyền Nhà nước, nhưng Nhà nước ở Mỹ lại rơi vào tay của giai cấp tư sản, do đó công nông vẫn cứ cực khổ. Đối với cách mạng tư sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đánh giá rằng, Nhà nước tư sản Pháp ra đời là thành quả của cuộc cách mạng 1789 lật đổ chế độ phong kiến với những khẩu hiệu nổi tiếng:“Bình đẳng, tự do, bác ái”; đây là tư tưởng rất tiến bộ, phản ánh tư tưởng của các nhà cách mạng Pháp ở thế kỷ ánh sáng chống lại bọn phong kiến; giai cấp tư sản Pháp thấy rõ vai trò và sức mạnh của nhân dân nên đã tìm cách lợi dụng nhân dân để chống lại ách thống trị của bọn phong kiến; tư bản nó “dụng” chữ tự do, bình đẳng, đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ bọn phong kiến rồi thì nó quay lại thay phong kiến mà áp bức dân. Nghiên cứu hai cuộc cách mạng tư sản Pháp và Mỹ ở thế kỷ XVIII Nguyễn Ái Quốc rút ra những kết luận chung nhất: Một là, giai cấp tư sản Mỹ và Pháp đã lợi dụng sức mạnh của nhân dân, tìm cách mị dân để lôi kéo nhân dân vào cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến. Hai là, khi giành được chính quyền, thiết lập được BMNN tư sản trên cơ sở đập tan Nhà nước phong kiến rồi thì giai cấp tư sản quay lại đàn áp bóc lột nhân dân, không thực hiện những điều mà họ đã khẳng định trong Tuyên 14 z ngôn của họ là quyền lực tối cao trong thiết chế chính quyền Nhà nước thuộc về nhân dân.
Nguyễn Ái Quốc cũng đã để nhiều tâm sức vào nghiên cứu, tìm hiểu cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Người nhận thức được ý nghĩa sâu sắc của cuộc Cách mạng tháng Mười là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân, mà tiên phong của nó là Đảng Bôn Sê Vích Nga lãnh đạo, cuộc cách mạng vô sản này thật sự đề cao vai trò của nhân dân, huy động tất cả mọi lực lượng chủ yếu là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và binh lính chống lại giai cấp tư sản để giành lấy chính quyền về tay nhân dân, lập nên các Xô Viết công nông binh, đây là cuộc cách mạng triệt để, đưa lại quyền lợi thật sự cho nhân dân lao động. Nhà nước Xô viết được thành lập trên cơ sở quyền lực của nhân dân. Người đã khẳng định rằng: “Muốn thành công, cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường của cách mạng Nga”[19].
Xây dựng một Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là tư tưởng nhất quán trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là bài học về xây dựng chính quyền mà Người đã nhận thức được qua việc nghiên cứu các kiểu Nhà nước qua các cuộc cách mạng Mỹ, Pháp, Nga. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Việc nước là việc chung, mỗi một người con Rồng, cháu Tiên; bất kỳ già trẻ, gái trai, giàu nghèo, nòi giống, tôn giáo đều có phải gánh vác một phần”[19].
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, để thực thi quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước Việt Nam mới - Nhà nước Dân chủ Cộng hoà, ngày 3/9/1945, trong cuộc họp Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã đề nghị tiến hành tổ chức “càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.