Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đăng ký và quản lý: 1. Khái quátvề đăng lý và quản ý hộ tịch. Nguyên tắc đăng lý và quản lý hộ tịch. Vai tò của công tác đăng ký và quản ý hộ tịch.
Đỗi tượng và phạmvi ca đăng By, Hj, tinh Thái Nguyên. Tinh hành kinh tế - chính trị - xã hội luyện Đông Hj, tỉnh Thái Neuyén ~ những yêu tô ảnh lưởng đắn hoạt động đăng ký và quan lý hộ tịch trên dia ban Ingen 2.2, Thực trạng các guy định của pháp lt v8 đăng lộ và quân lý lộ ‘ich ở Việt Nam nói clumg và trên địa bàn lu 23, Thục trang hoạt động đăng lý và quản ÿ lộ tịch trên địa bàn "uyện Đông Hi, tink Thái Nguyên. Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện Đẳng Hy, tinh Thái Nguyên. Một số ý kiến, dé xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật vé đăng lý và quản.
Một số ý kiến, đề xuất nâng cao hiệu quả của hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch tại địa phương. PHAN NỘI DUNG Chương MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE ĐĂNG KÝ VÀ QUAN LÝ HỘ TỊCH 11. Khái quát về đăng ký và quản lý “Xét từ góc đồ ngôn ngữ học, "hồ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ, được ghép bởi hai thành tổ có nghĩa dc lâp, trong đó từ "tịch" đóng vai trò là thành tổ chính. Xét vé mất từ loại thi đây là mốt danh tử thuộc nhóm danh từ chỉ ‘chai niệm trimtượng.
Nếu tim hiểu riêng từng thanh tổ thi ta có thể thấy các từ. điển tiéng Việt hiện nay khá thông nhất trong cách hiểu vẻ từng từ đơn nay. Theo đó, từ "hộ" khi sử dung là danh từ có nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có một nghĩa trực tiếp là "dân cư" hoặc "nhà ð", hiểu rông ra là "đơn vi để quan lý dân số, gồm những người cùng ăn ở với nhau". Tương tự từ "tịch" có nghia là.
"sỗ sách" hoặc là "số sách đăng ky quan hệ lệ thuộc". Tuy nhiên, việc tổ hợp hai từ đơn này thành danh từ "hộ tịch" là một trường hợp rất đấc biệt vé mặt ngôn. ngữ va được sử dụng với thuộc tính kết hop hạn chế (han chế về việc sử dụng và khả năng tổ hợp của từ ngữ) Chính do tính chất đấc biệt ấy cho nền khảo cứu qua các từ điển tiếng Việt, thì có nhiêu cách giải nghĩa từ hộ tịch rất khác nhau. Vidu 16 tich: sỗ của cơ quan dân chính đăng kệ cư dân trong địa phương mình theo từng he"; ~ “Hộ tịch: Các sự kiện trong đồi sống của một người thuộc sự quân của pháp luật”, 16 tich: quyén cứtrí, được chính quyén công nhận của một người tat nơi minh 6 thường xuyên, cũa những người thường trú thuộc cùng một hộ, do ~ “Hộ tịch: Quyễn sé ght chép lên tudi, quê quán, nghề nghiệp của moi người trong một địa phương "$, Ì Thy didn tidng Việt — Hoàng Phê chả biển in lin thứ nmNXB Đà Nẵng, 1998 2 Đại te điền Tiếng Việt, Nguyễn Nin Ý chủ biên NXB Vãnhoá - Thông tin, 1998.
` Từ điễn tường giả và liên trổng tiéng Việt, Nguyễn Văn Dam, NXB Văn hoá Thông tin, 1993 ~ “Hộ tịch: Số hộ khẩu do chỉnh quyền dia phương cấp” `, Theo quan niệm của một số học giã miễn Nam Việt Nam thời kỹ trước năm. 1975, khái niệm "hộ tịch" lẫn đâu tiên được định nghĩa trong các giao trinh giảng day của Dai học Luật khoa Sài Gan dưới chế độ Viét Nam Cộng hoa, trong đó thể hiện một số quan niên của một sé tác giả sau: Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là người dau tiên trình bảy quan niệm “hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958: “H6 tích ~ còn got là nhân thể bộ ~ là cách sinh hop pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hột. Hộ tịch căn cử vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tứ". Các tác gia Vũ Văn Mẫu ~ Lê Đình Chân lại trình bảy một định nghĩa.
khác về khát niệm "hộ tịch" "HO tịch là số biên chép các việc liên hệ din các người trong nhà: Hộ tịch gồm ba số dé ghủ chép các sựkhai giá thú, khai sinh và khái từ” Tác giả Trin Thúc Linh, người đã dây công biên soạn cuốn “Danh từ pháp luật lược giải" - vẫn được đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đều tiên được biển soan một cách khá kỹ lưỡng, toàn điên không đưa ra định nghĩa về khái niệm "hô tích” mà chi đưa ra định nghĩa vé Khái niệm "chứng thư hô tịch”, Tuy nhiên, khái niêm “chứng thư hô tịch” của Trắn Thúc Linh đã hàm chứa trong đó khái niêm về “hộ tich”: " Chứng thư hộ tịch là những giấy tờ công chứng đùng để chứng minhmét cách chính xác thân trạng người ta rhùc ngày thẳng sanh tử: giá thi, họ tân con trai con gái. con chỉnh thức hay con he sanh, te cách vợ chẳng. ôm lat tinh trang xã lội của con người từ lúc sinh ra đến thu chất Các sé sách hộ tịch ghủ lai mọi việc sanh: tử: gid thú và các việc thay đốt về thân trang người ta (nhìn nhân con ngoai hôn, chính thức hoá con tư sinh, khước từ phi hệ, Ip thân." Š Ý Tự điễn và ngữ Việt Nam, Nguyễn Lân li biên, NXB TP. Hỗ Chi Minh, 2000 Š Từ điển Hán Việt, Phan Văn Các chủ biên, NXB TP.
Hé Chi Minh. Š Phan Văn Thiết, Hộ tich chỉ nam, Tũ sách phố thông, in lan thứ nhất, 1958. 7 Vai Văn Mẫu, Lé Đình Chân ~ Danh từ và tai liệu Dân luật và Hiến luật, Ta sách Đại học Sai Gòn, 1968 8 Trân Thúc Linh, Danh từ pháp luật lược giả, Nhà sách E:hai tri, Sai Gon, 1965, r4) Nhìn một cách tổng quát, ta có thể thay các học gia ở miền Nam thời kỳ trước năm 1975 đã đưa ra những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm hộ tich, nhưng trong những định nghĩa nay déu chỉ ra những đầu hiệu đặc trưng của hộ tich, a6 là ~ Hồ tich la việc ghi chép các quan hệ gia đính của một người, - Các quan hệ gia đình thuộc pham vi quan tâm của hộ tịch phải là những quan hệ phát sinh trên cơ sở ba sự kiện quan trong trong cuộc đời mỗi con người. đó là: sự kiên sinh, hôn nhân và tờ.
- Chứng thư hộ tịch là loại giấy tờ pháp lý có gia trị chứng minh chính sic các đặc điểm nhân thân cơ ban của một cá nhân. ‘Mit khác, trong khoa học pháp lý của một số nước trên thé giới, ta có thé nhận thấy khái niệm vẻ hộ tịch đã được để cập, cu thể như theo tiếng Anh, thuật ngữ “Civil registration” được hiểu là việc đăng ký đúng thời han các sự kiện sinh, tử, kết hôn với chính quyên trong thời hạn quy định. Hiện nay, trong Bộ luật Dân sự của Công hoa Pháp không đưa ra khái niệm riêng vé hộ tịch ma chỉ đưa ra khái niêm “Chứng thee hộ tich”, nhưng trong tiếng Pháp thì từ “registre detat civil” cũng được hiểu là việc đăng ky dân sự của cá nhân. vây, cả hai khái niệm nêu trên déu có thể hiểu nghĩa đó là việc "đăng ý từ: trang đân sự của cá nhân" Các nước có hệ thống pháp luật theo truyền thống la luật thảnh văn (còn.
goi 18 hệ thông luật lục dia) với đại diện tiêu biểu nhất là Pháp thì Khái niệm nay thường gắn liên với khái niệm "Thẩn trang” và được hiểu là "căn cước, Tình trang dân sự của một cả nhân" (iéng Pháp là état des personnes). Còn hiện nay, theo các tai liệu va được Liên hiệp quốc công nhân va chính thức sử dụng thường xuyên thì khái niệm “Civil registration” có nghĩa la: " Đăng lý hộ tịch là việc ght nhớ liên tuc đặc diém về sựtôn tat và tình trang dân sự của mỗi cá nhân liên quan đẫn dân số được guy Äịnh bối sắc lệnh luật hoặc điều 18 phù hop với yêu cầu của pháp luật mét quốc gia". Như vây, có thé thấy về mặt ngôn ngữ học, từ Hộ tich đang được sử dung trong pháp luật Việt Nam hiện hành déu có su tương đẳng vé ngữ nghĩa với khái niệm của pháp luật về hộ tich của nước ngoài 6 nước ta hiện nay, khái niệm "hộ tịch" đã được quy định cụ thể tại Điều 3 của Luật Hộ tich 2014 như sau : "Xác định tỉnh trang thân nhân của cá nhân từ khi sinh ra đến khí chết đi". Còn khái niêm "đăng ký hồ tịch", theo quan niềm.
truyền thống: Đăng ký hộ tịch là việc ghi chép vào số các sự kiện về việc hộ tịch của các hô lại nhằm quản lý việc biển đồng tự nhiên, biển đông xã hội của các sw kiên đó, trên cơ sở đó xác định nghĩa vu đối với Nha nước như dong thuế, nghĩa vụ nô dich, quân dịch. Hiện tai, khái niềm nay được mở réng pham vi tai khoản. 3 Điễn 2 của Luật Hồ tịch 2014, đó lá. "Đăng ký hô tịch la việc cơ quan nha nước có thẩm quyển sic nhân hoặc ghi vào Sổ hộ tích các sự kiện hộ tịch của các nhân, tạo cơ sở pháp ly dé nha nước bảo hộ quyên, lợi ich hợp pháp của cả nhân, thực hiền quản lý vẻ dân củ".
Như vay, sự kết hợp giữa khái niêm "hô tịch" (ma đúng hon là sự kiện "hộ tịch") va "đăng ký hộ tịch" mới có thể mang lai cách hiểu đây di vẻ khái niềm "hồ tịch", vi "hộ tịch là những sự kiện cơ bản. xác định tình trang nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chế” là một khái tiệm "mở", theo đó, chỉ có thé hiểu "những sự kiện cơ bản xác định tình trang nhân. thân của một các nhân" là những sự kiện néo Khi viện dẫn tới định nghĩa vẻ "đăng ký hộ ti" Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niêm vé "hộ tịch” như sau: H6 tich là những sự kiện cơ bản xác Ảnh tinh trạng nhân thân của các nhân từ khi sinh ra dan Rhủ chết. Bên cạnh việc làm rõ khái niệm vẻ "hộ tịch" cũng như "vẻ "đăng ký hộ tich", chúng ta cũng cẩn phải phân biệt giữa "quản lý hô tịch "và "quản lý hộ khẩu".
Thực tế cho thấy, hiện nay có sự nam lấn không nhỏ trong tư duy của nhiễu người giữa khái niệm "hộ tịch” và "hộ khẩu”, cũng như sự nhâm lẫn vé hoạt động quan lý hộ tịch và hoạt đông quản lý hộ khẩu trong nhận thức xã hội còn kha phổ biển.