phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm 3 chương, 07 tiết. Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân cấp huyện. Thực trạng hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân cấp huyện ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Phương hướng và giải pháp đổi mới hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân cấp huyện ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Cấp huyện và Hội đồng nhân dân cấp huyện - Vị trí, vai trò, chức năng, tổ chức 1. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp huyện Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin, nhà nước mang bản chất. Nhà nước chỉ ra đời từ khi xã hội phân chia giai cấp.
Giai cấp nào thì. Do trong xã hội nguyên thủy không có phân chia giai cấp, nên. trong xã hội nguyên thủy không có Nhà nước. Cho đến nay, đã có 4 kiểu Nhà.
nước được hình thành: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư. sản, Nhà nước vô sản (Nhà nước xã hội chủ nghĩa). Nhà nước được giai cấp. thống trị thành lập để duy trì sự thống trị của giai cấp mình, để làm người đại.
diện cho giai cấp mình, bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Bản chất nhà nước. có hai thuộc tính: tính xã hội và tính giai cấp cùng tồn tại trong một thể thống. nhất không thể tách rời và có quan hệ biện chứng với nhau.
Tính giai cấp là. thuộc tính cơ bản, vốn có của bất kỳ nhà nước nào. Nhà nước ra đời trước hết. phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị; tính xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ.
nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, và ở mức độ này hay mức độ. khác nhà nước thực hiện bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia dân tộc và. công dân mình. Theo sự phát triển của xã hội, Nhà nước ngày càng phải can thiệp sâu.
vào nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội và thể hiện rõ là một bộ phận quan. trọng trong đời sống xã hội. Để hoàn thành được nhiệm vụ của mình, Nhà. nước phải tổ chức ra bộ máy gồm nhiều bộ phận với những cơ cấu khác nhau.
tạo nên một hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước. Trong bộ máy Nhà. nước đó, Nhà nước tổ chức các loại cơ quan khác nhau, có vị trí, vai trò khác. 10 nhau tùy thuộc vào từng chế độ Nhà nước.
Đối với Nhà nước phong kiến, bộ. máy là một cơ cấu thống nhất từ vua đến các thượng thư và quan chức địa. Bộ máy nhà nước tư sản gồm các cơ quan Nghị viện (cơ quan lập. pháp), Chính phủ (cơ quan hành pháp) và Tòa án (cơ quan tư pháp), trong đó,.
tùy thuộc vào mức độ phân định các quyền mà vị trí, vai trò của từng cơ quan. trên có những khác biệt (mức độ phân quyền). Còn trong chế độ nhà nước xã. hội chủ nghĩa thì bộ máy nhà nước lấy nền tảng là các cơ quan đại diện quyền.
lực nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp), các cơ quan nhà nước. khác như Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân là những cơ. quan phái sinh từ cơ quan quyền lực nhà nước, và là những cơ quan phải chịu. sự giám sát, chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước.
Ở nước ta, từ khi Cách mạng tháng tám thành công, xây dựng nên Nhà. nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Mọi. quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân", tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc. về Nhân dân".
Đảng ta cũng khẳng định "bản thân các cơ quan nhà nước. không tự có quyền, mà được Nhân dân ủy nhiệm theo thẩm quyền cụ thể do. pháp luật quy định. Điều đó cho thấy nguồn gốc, bản chất quyền lực nhà nước.
là quyền lực Nhân dân "Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua các cơ. quan đại diện của mình đó là Quốc hội và HĐND các cấp". "Quốc hội là cơ. quan quyền lực cao nhất của Nhà nước; HĐND là cơ quan quyền lực nhà.
nước ở địa phương" [31, tr. Như vậy, giống như thiết chế của một số nhà nước khác trên thế giới,. trong bộ máy nhà nước ta, Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực. nhà nước ở địa phương, do Nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra, đại diện.
cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương đó;. HĐND có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương theo. quy định của pháp luật. Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng,.
11 Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc xây dựng củng cố và phát triển. Vì thế, HĐND đã làm được nhiều việc có lợi cho nước, cho dân, đã. thể hiện được vai trò là cơ quan đại biểu của Nhân dân, là chỗ dựa vững chắc. để Nhân dân xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng ngày càng lớn mạnh.
Song hiện nay chúng ta lại chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng. mô hình tổ chức và hoạt động của từng cấp và tổng kết kinh nghiệm trong. hoạt động của HĐND; vì thế trên thực tế cả về mặt tổ chức cũng như hoạt. động của HĐND các cấp vẫn còn là một trong những khâu yếu kém của bộ.
Vì vậy có ý kiến cho rằng: cần bỏ HĐND, hay nói cách khác. sự tồn tại của HĐND không cần thiết vì hoạt động của nó rất hình thức, làm. cho bộ máy nhà nước thêm cồng kềnh, tốn kém. Như vậy, vấn đề đặt ra hiện.
nay là phải tăng cường củng cố, kiện toàn HĐND, để HĐND hoạt động thực. chất hơn và ngày càng có hiệu lực, hiệu quả tương xứng với vị trí, vai trò của. HĐND như các bản Hiến pháp trước đó và Hiến pháp 2013 đã khẳng định. Vị trí, vai trò quan trọng của HĐND trong tổ chức và hoạt động của Nhà.
nước ta được khẳng định dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:. - HĐND các cấp trong suốt quá trình tồn tại và phát triển đã khẳng định. được vị trí, vai trò, trách nhiệm của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa. Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện.
cho Nhân dân địa phương, HĐND có khả năng đoàn kết tập hợp được quần. chúng, thống nhất ý chí và hành động của các tầng lớp Nhân dân, động viên. được mọi nguồn lực vật chất và tinh thần của mỗi địa phương góp phần vào. thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng của nước ta.
- Sự hiện diện của HĐND các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng có vai trò. to lớn trong việc hình thành nhà nước kiểu mới ở nước ta, thể hiện được tính. giai cấp sâu sắc, tính chất Nhân dân thực sự của nhà nước, tạo niềm tin vững. chắc cho Nhân dân về một chính quyền do Nhân dân quyết định.
12 - HĐND các cấp với tư cách là người đại diện về quyền làm chủ Nhân. Những người đủ năng lực, phẩm chất trong Nhân dân sẽ tham gia vào. HĐND và thông qua các đại biểu của Nhân dân, HĐND trở thành diễn đàn để. người dân thực hiện quyền làm chủ Nhà nước và xã hội của mình.
hoạt động của HĐND từ khi ra đời đến nay thực sự là tài sản và kinh nghiệm. quý giá cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của Nhân. dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. - HĐND là cầu nối giữa chính quyền Trung ương và cấp trên với chính.
quyền địa phương, cơ sở vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất trong hoạt. động của bộ máy nhà nước trên phạm vi toàn quốc, vừa đảm bảo phát huy. được nội lực từng địa phương. Thông qua Quốc hội và HĐND các cấp, bằng quyền dân chủ trực tiếp của mình, Nhân dân thực hiện được quyền làm chủ.
trên phạm vi cả nước và trước hết làm chủ ở ngay địa phương, cơ sở họ đang. Trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đó, Điều 113 Hiến pháp 2013 và. Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đều xác định: "Hội. đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý.
chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương. bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp. trên" (Hp, tr. Hiến pháp cũng quy định thẩm quyền rộng rãi của HĐND.
đảm bảo cho nó thật sự là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, chịu. trách nhiệm và toàn quyền quyết định những vấn đề trọng đại ở địa phương. trong khuôn khổ quy định của Hiến pháp và pháp luật [37, tr. Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên,.
HĐND ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến. pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và. ngân sách; về quốc phòng an ninh ở địa phương, về biện pháp ổn định và. nâng cao đời sống của Nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho.
13 Từ những quy định của Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa. phương 2015, có thể khái quát vị trí, vai trò, bản chất pháp lý của HĐND. được thể hiện ở hai phương diện cơ bản là tính đại diện và tính quyền lực. Thứ nhất: HĐND là cơ quan đại diện của Nhân dân địa phương.
Ở địa phương, HĐND là cơ quan duy nhất được thành lập bằng một. cuộc bầu cử do cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông,. bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Hình thức hoạt động của HĐND chủ yếu.
thông qua kỳ họp toàn thể. Mọi quyết định của HĐND được thông qua bằng. việc biểu quyết theo nguyên tắc đa số. Tính chất đại diện của HĐND về mặt.
hình thức được thể hiện rõ nét nhất ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong Hội đồng.