Chương 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý về hoạt động giám sát của HĐND huyện. Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Chương 3: Phương hướng, giải pháp đảm bảo hoạt động giám sát của HĐND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. 9 NỘI DUNG Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện 1. Khái niệm về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Để nhận thức đúng bản chất, vai trò, nội dung cũng như phương thức hoạt động của hoạt động giám sát của HĐND huyện trước hết cần làm rõ khái niệm về giám sát. Qua nghiên cứu một số tài liệu cho thấy thuật ngữ “giám sát” được hiểu theo nhiều cách, từ nhiều góc độ khác nhau như: Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn thì giám sát có nghĩa là “Theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng quy định không” [40,tr. Theo cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng thì: Giám sát là sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội; trong việc thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến Pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước, các quyền, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị - xã hội và những kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái [30,tr.
Theo nội dung giải thích từ ngữ của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 thì “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” [34,tr. Với những khái niệm đó, chúng ta thấy giám sát có những đặc trưng sau: 10 Thứ nhất, giám sát luôn gắn với một chủ thì nhất định nào đó, tức là phải trả lời được câu hỏi ai (cá nhân hay tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những nhận định, đánh giá về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặc không đúng với những điều đã quy định, quyết định. Thứ hai, giám sát bao giờ cũng cần hai giai đoạn chủ yếu: giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và giai đoạn đánh giá đưa ra kết luận. Trong đó giai đoạn thứ nhất rất quan trọng, là cơ sở để thực hiện giai đoạn thứ hai.
Nếu giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá, kết luận sẽ đúng đắn, chính xác và cuộc giám sát sẽ có hiệu quả và ngược lại. Thứ ba, giám sát cũng luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải trả lời được câu hỏi giám sát ai, giám sát việc gì. Đặc điểm cơ bản này cho chúng ta phân biệt giữa giám sát và kiểm tra. Bởi nói tới kiểm tra thì chủ thể hoạt động kiểm tra và đối tượng chịu sự tác động này có thể đồng nhất là một.
Đó là việc tự kiểm tra của chủ thể đối với hoạt động của mình, tức là tự xem xét đánh giá tình trạng tốt xấu của công việc đang làm để từ đó uốn nắn, sửa chữa. Nhưng trong việc giám sát thì không thể có tình trạng tự chủ thể hoạt động quan sát, theo dõi đến chính hành vi của mình mà phải là hoạt động theo dõi, thẩm tra và xem xét của một chủ thể khác từ đó đưa ra kết luận và xử lý. Khác với kiểm tra, thanh tra, hoạt động giám sát bao giờ cũng được báo trước cho đối tượng bị giám sát một thời gian nhất định. Thứ tư, giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động giám sát, nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát.
Thứ năm, giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì: nếu như thiếu những quy định này thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu chí để đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu giám sát. Như vậy, tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ “giám sát” có khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản: Giám sát là việc theo dõi, xem xét và kiểm tra một chủ thể nào đó về một việc làm đã thực hiện đúng hoặc thực 11 hiện chưa đúng những điều đã quy định để từ đó có biện pháp tiếp tục phát huy những ưu điểm, những kết quả đạt được, điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, nhằm đạt được những mục đích xác định từ trước, bảo đảm cho các quyết định được thực hiện đúng và đầy đủ. Nếu như trước đây, quan niệm giám sát chỉ tập trung ở phần theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng quy định không, thì hiện nay, nền khoa học chính trị pháp lý đã mở rộng hơn khái niệm này, bao gồm cả phần hậu quả pháp lý, là việc xử lý những hành vi sai trái.
Nhìn chung, mục đích chung của giám sát nhà nước cũng như giám sát xã hội là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của các cơ quan tổ chức, cá nhân có chức vụ quyền hạn trong bộ máy nhà nước, trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật quy định về nghĩa vụ, chức năng và thẩm quyền của họ. Tóm lại, thuật ngữ “giám sát” nếu hiểu theo nghĩa chung thì phạm vi áp dụng của nó rất rộng, muốn có một khái niệm cụ thể thì hoạt động giám sát bao giờ cũng gắn với một chủ thể xác định chẳng hạn như giám sát của Đảng, giám sát của Quốc hội, giám sát của HĐND, giám sát của Nhân dân. Căn cứ vào các yếu tố cấu trúc của các khái niệm giám sát, căn cứ vào những quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và các văn bản pháp luật khác thì hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện được hiểu như sau: Giám sát của HĐND cấp huyện là tổng thể các hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các ban của HĐND và các đại biểu HĐND nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan tổ chức, cá nhân chịu giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên cũng như nghị quyết của HĐND cấp huyện; từ đó đưa ra các kết luận và phương án xử lý phù hợp để phát huy mọi tiềm năng, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ngày càng vững mạnh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với tỉnh và cả nước. 12 Có thể nói HĐND là một bộ phận cấu thành của cơ chế giám sát kiểm tra nhà nước, điểm đặc biệt HĐND huyện vừa là chủ thể thực hiện hoạt động giám sát nhưng cũng đồng thời là đối tượng chịu sự giám sát của HĐND tỉnh.
Đặc điểm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, việc giám sát các hoạt động của nhà nước được thực hiện bởi rất nhiều cơ quan, tổ chức giám sát của Đảng, giám sát của cơ quan dân cử (Quốc hội và HĐND các cấp), giám sát của Chủ tịch nước, kiểm tra, thanh tra của Chính phủ và bộ máy hành chính, kiểm tra giám sát của VKSND và TAND), giám sát của các tổ chức chính trị xã hội, giám sát của Nhân dân. Trong đó giám sát của HĐND có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của địa phương. Xuất phát từ vị trí, vai trò của HĐND và tính phong phú trong hoạt động giám sát. Hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện có một số đặc điểm sau: Một là, giám sát của HĐND được thực hiện bởi chính HĐND và các cơ quan bên trong của HĐND (thường trực HĐND, các Ban của HĐND) và các đại biểu HĐND, đồng thời trong mối quan hệ với HĐND thì thường trực HĐND, các Ban của HĐND cũng là khách thể giám sát của HĐND nhưng trong quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác thì những cơ quan này trở thành chủ thể giám sát.