Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu dưới góc độ kiểm soát quyền lực nhà nước Bàn về giới hạn quyền lực, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước, các tác giả đã đưa ra các quan điểm và nhận định: quyền lực công phải bị giới hạn, kiểm soát và giám sát để nhằm ngăn chặn sự tha hóa quyền lực, ngăn chặn tệ tham nhũng, lạm quyền trong điều hành. Liên quan đến vấn đề nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ này có thể kể đến các công trình sau: Trong sách chuyên khảo: "Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992" của GS.TS Trần Ngọc Đường [40] đã nghiên cứu có hệ thống về lý luận tổ chức thực thi quyền lực nhà nước mà trung tâm là phân công, phối hợp và KSQL nhà nước.
Đây là công trình quan trọng, hữu ích giúp nghiên cứu sinh thực hiện đề tài của mình. Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, có thể tiếp tục kể đến một số công trình của tác giả Trần Ngọc Đường như: "Quyền giám sát tối cao của Quốc hội và quyền giám sát tối cao của các cơ quan Quốc hội"; "Quyền giám sát tối cao và một số suy nghĩ về việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội" …với tư cách là là những nghiên cứu chuyên sâu các mặt của kiểm soát quyền lực nhà nước, là tư liệu quý báu để nghiên cứu sinh kế thừa và phát triển trong nghiên cứu đề tài này. Cũng nghiên cứu về cơ chế KSQL nhà nước, trong nghiên cứu: "Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay" của GS.TSKH Đào Trí Úc, GS.TS Võ Khánh Vinh [124] chủ biên đã tập hợp nhiều bài viết của các nhà khoa học về giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Nghiên cứu này đã khẳng định tính tất yếu khách quan của giám sát quyền lực nhà nước.
Trong công trình này, các tác giả đã có sự phân biệt giữa giám sát mang tính quyền lực nhà nước (giám sát bên trong) và giám sát xã hội (giám sát bên ngoài). Tuy nhiên, công trình này chưa bàn sâu về cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp. 9 Trong cuốn: "Quyền lực nhà nước và quyền công dân" của Đinh Văn Mậu [62] khẳng định: Gốc của quyền lực là của nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua các cơ quan nhà nước. Đây chính là một hình thức trao quyền cho nhà nước thông qua một cơ chế pháp lý cụ thể.
Nhà nước do nhân dân thiết lập và trao quyền lực, nghĩa là quyền lực nhân dân trở thành quyền lực nhà nước. Nhà nước khi sử dụng quyền lực sẽ nảy sinh xu hướng lộng quyền và lạm quyền. Tuy nhiên, công trình chưa nghiên cứu sâu vấn đề cơ chế pháp lý nói chung, cơ chế KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam nói riêng. Trong tác phẩm: "Sự hạn chế quyền lực Nhà nước" của GS.
Nguyễn Đăng Dung [16] cho rằng sự hạn chế quyền lực nhà nước như là biểu hiện khách quan của việc tổ chức NNPQ dân chủ. Theo tác giả, việc phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các nhánh quyền lực theo chiều dọc và theo chiều ngang cùng với một cơ chế giám sát, kiểm tra sẽ góp phần để hạn chế quyền lực. Để làm điều này, cần có một số chính sách cụ thể như: Tổ chức lại cấu trúc quyền lực nhà nước; sự công khai, minh bạch của chính quyền; hoạt động tự do báo chí; bỏ phiếu trưng cầu ý dân; tòa án độc lập… Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có tác dụng gợi mở đề NCS tiếp tục nghiên cứu về cơ chế KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp và trách nhiệm của Nhà nước trong tạo lập cơ chế đó. Trong công trình nghiên cứu: "Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước" của tác giả PGS.TS Thái Vĩnh Thắng [106] đã viện dẫn quan điểm của Jean Jacques Rousseau về KSQL nhà nước và khẳng định tính khoa học của những nguyên lý này.
Tác giả đã phân tích, lý giải cách thức tổ chức và KSQL nhà nước trong các kiểu nhà nước, mô hình nhà nước phong kiến Việt Nam và mô hình nhà nước từ Hiến pháp 1946 đến nay; nghiên cứu về tổ chức và KSQL nhà nước của Nga và các nước Đông Âu qua các thời kỳ, có sự so sánh, đối chiếu, khảo nghiệm. Đây là công trình khoa học có chất lượng và ý nghĩa đối với việc rút ra các nguyên lý, kinh nghiệm về tổ chức và KSQL nhà nước. Tuy vậy, tác giả chưa đề cập đến vấn đề cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam. Trong luận án tiến sĩ Luật học: "Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của tác giả Trương Thị Hồng Hà [45] đã phân tích về cơ chế, làm sáng tỏ khái niệm cơ chế 10 pháp lý, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố tạo nên hệ thống cơ chế pháp lý.
Đây là công trình có ý nghĩa tham khảo về mặt lý luận cho việc hoàn thiện cơ chế KSQL nhà nước bằng thực hiện dân chủ đại diện ở Việt Nam.Tiếp cận dưới góc độ khoa học chính trị, cũng bàn về chức năng giám sát của Quốc hội, trong nghiên cứu: "Thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam hiện nay" của tác giả Vũ Thị Mỹ Hằng [47] đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về chức năng giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam; đánh giá thực trạng và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại đối với việc thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội và đề xuất một số phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội trên cơ sở nghiên cứu việc thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay. Trong luận án tiến sĩ Chính trị học: "Vấn đề tập trung và phân quyền trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước" của tác giả Phạm Thế Lực [58] đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của tập trung, thống nhất, phân công quyền lực và có sự so sánh đối chiếu với một số mô hình điển hình trên thế giới, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Mặc dù đã phân tích làm rõ mối quan hệ giữa tập trung và phân quyền nhưng luận án vẫn chưa đề cập, giải quyết vấn đề cơ chế KSQL đối với quyền hành pháp; đặc biệt chưa đưa ra được các giải pháp khả thi để kiểm soát hiệu quả quyền hành pháp. Trong khuôn khổ đề tài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tổ chức và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam",Viện Nhà nước và pháp luật (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), Hội thảo khoa học: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tổ chức và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của PGS.TS Phạm Hữu Nghị [66].
Tại hội thảo, đã có các tham luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: "Quan niệm về tổ chức và KSQL; sự cần thiết KSQL nhà nước"; "Quan niệm về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước"; "Sự cần thiết phải giới hạn quyền lực nhà nước; quyền lực nhà nước và tự do cá nhân"; "Tư tưởng về tổ chức và KSQL nhà nước trong lịch sử nhân loại"; "Giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân". Đào Trí Úc trong nghiên cứu: "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực chính trị, đảm bảo dân chủ và kỷ luật trong hệ thống chính trị" [127], đã phân tích làm rõcác yêu cầu về lý thuyết và thực tiễn vận hành nhằm xây dựng cơ chế KSQL nhà nước ở Việt Nam. Trên cơ sở phân tích sâu sắc về thực trạng của cơ chế này, đề tài đã đề ra các giải pháp hoàn thiện về cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhằm mục đích xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Sách "Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Long Hải [46].
Công trình này đã khái quát quá trình hình thành và phát triển thể chế pháp lý ở Việt Nam; đánh giá thực trạng về thể chế pháp lý KSQL nhà nước hiện nay; phân tích và đưa ra các giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp lý về quyền lực nhà nước. Cuốn sách "Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay" của GS.TS Nguyễn Minh Đoan [33] đã nêu những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế pháp lý KSQL nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam như khái niệm quyền lực nhà nước, KSQL nhà nước, cơ chế pháp lý KSQL nhà nước; đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý KSQL nhà nước ở Việt Nam dưới các góc độ các quy định pháp luật về phân công quyền lực và thực tiễn KSQL nhà nước; đề ra các quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý KSQL nhà nước của các cơ quan quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.