Chương 1. Những vấn đề lý luận của pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở; Chương 2. Thực trạng pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở và thực tiễn thực hiện tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; Chương 3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở từ thực tiễn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
8 Luan van CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ 1. Thực hiện dân chủ cơ sở 1. Khái niệm * Khái niệm dân chủ Trong tri thức nhân loại, dân chủ được coi là một cụm từ có được từ “sản phẩm của nền văn minh”, là điều kiện và tiêu chuẩn tiến bộ xã hội. Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chính trị có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp: “demos” là Nhân dân và “kratos” là chính quyền; theo nghĩa tiếng Anh “demoeracy” có nghĩa là “chính thể dân chủ”.
Theo đó, có thể hiểu dân chủ là chính quyền thuộc về Nhân dân. Nhân dân là chủ thể quyền lực Nhà nước. Nhà nước dân chủ là Nhà nước thừa nhận và bảo đảm các quyền tự do và bình đẳng của công dân. Dân chủ là khát vọng vươn tới và là mục tiêu đấu tranh của xã hội loài người.
Lịch sử thế giới đã chứng tỏ sự phát triển của nền dân chủ qua các giai đoạn, thể hiện nấc thang tiến bộ là: dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, trên thế giới, nhiều quốc gia đang thực hiện quá trình dân chủ hóa xã hội một cách mạnh mẽ. Dân chủ đang ngày càng được thể hiện trong tất cả các mối quan hệ xã hội là một quy luật tất yếu. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng và phát triển đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Hiện nay, do cách thức tiếp cận, mục đích tiếp cận không giống nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về dân chủ. Từ góc độ khái quát nhất, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, có thể hiểu: “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận 9 Luan van Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định” [14, tr. * Khái niệm cơ sở và thực hiện dân chủ cơ sở Cơ sở là thành tố, là đơn vị nhỏ nhất trong cấu trúc của một hệ thống các sự vật hiện tượng.
Khái niệm cơ sở được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, cơ sở là đơn vị xã hội nhỏ nhất mà Nhân dân tổ chức nên, đó là gia đình, buôn, làng, xóm, ấp, thôn, bản, cấp nhỏ nhất của một hệ thống cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội [16]. Theo nghĩa hẹp, cơ sở là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền Nhà nước, các pháp nhân công quyền, các pháp nhân kinh tế [16]. Luận văn tiếp cận khái niệm cơ sở theo nghĩa này.
Theo điều 110 - Hiến pháp 2013, các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được chia thành 4 cấp: Trung ương, cấp Tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Như vậy, cơ sở trong khái niệm trên được hiểu là: xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Xuất phát từ vị trí, vai trò của cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất nên Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân trước hết từ cấp cơ sở. Như vậy, dân chủ cơ sở là biểu hiện cụ thể của thiết chế dân chủ, là sự đảm bảo Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực Nhà nước tại địa bàn xã, phường, thị trấn bằng những hình thức nhất định, phù hợp với các nguyên tắc, quy định của pháp luật.
Dân chủ cơ sở không phải là hình thức dân chủ mà là cấp độ thực hiện dân chủ thông qua hai hình thức: 10 Luan van Thứ nhất, Dân chủ trực tiếp là hình thức qua đó Nhân dân bằng hành vi của mình trực tiếp thực hiện quyền dân chủ Nhà nước và xã hội. Đó là thực hiện quyền được thông tin, bàn bạc và quyết định, trực tiếp giám sát [35]. Thứ hai, Dân chủ đại diện là hình thức mà qua đó Nhân dân thực hiện sự “ủy quyền”, giao quyền lực của mình cho người, tổ chức mà Nhân dân trực tiếp bầu ra. Những người và tổ chức ấy đại diện cho Nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân.
Nhà nước là cơ quan đại diện cho quyền làm chủ của Nhân dân trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước. Song Nhà nước không thể hiểu hết được tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân ở các vùng, miền địa phương có những đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội, địa lí, tập quán khác nhau. Do đó, phát huy và mở rộng dân chủ trực tiếp của Nhân dân đến tận cơ sở là nhằm đảm bảo quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân, vừa phát huy tính sáng tạo, trí tuệ của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Chính vì vậy, dân chủ cơ sở hướng tới hình thức dân chủ trực tiếp là chủ yếu.
Có thể khái quát khái niệm “thực hiện dân chủ cơ sở” như sau: “Thực hiện dân chủ cơ sở là việc thừa nhận và thực hiện thường xuyên các quyền làm chủ của công dân; tăng cường tính cộng đồng trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân ở cấp cơ sở. Nội dung thực hiện dân chủ cơ sở Nội dung thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã là những công việc của Nhà nước và của xã hội mà Nhân dân phải được biết, được tham gia vào quản lý Nhà nước và những nội dung Nhân dân giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở. Chính quyền cơ sở, cấp ủy Đảng, MTTQ và các tổ chức thành viên ở cơ sở phải có trách nhiệm thực hiện và tổ chức cho Nhân dân thực hiện các quyền dân chủ này. Nội dung dân chủ cơ sở ở cấp xã được thực hiện theo 11 Luan van phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, trong đó các việc biết, bàn, làm, kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ và chất lượng thực hiện nội dung này ảnh hưởng quyết định đối với việc thực hiện nội dung tiếp theo [15].
Thứ nhất, “Dân biết” được thể hiện qua hoạt động tiếp cận thông tin của Nhân dân. Quyền tiếp cận thông tin là quyền chính trị cơ bản đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế cũng như Hiến pháp, pháp luật. Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 (Điều 25) đều quy định công dân có quyền được thông tin. Nghĩa là, công dân có quyền được biết những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, được thông tin những vấn đề cấp thiết, gắn liền với cuộc sống hằng ngày.
Quyền tiếp cận thông tin của người dân phản ánh bản chất xã hội ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, mọi việc của Nhà nước phải được cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Một trong những vấn đề quan trọng của Nhân dân đó là quyền được biết về tình hình chung đang diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước, của địa phương và những vấn đề cụ thể có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của bản thân mỗi người dân, cũng như của gia đình và cộng đồng dân cư. Thứ hai, “Dân bàn” là xu hướng tất yếu khi người dân đã được cung cấp thông tin. Nhân dân có quyền tham gia bàn bạc, thảo luận các vấn đề chung của đất nước và địa phương; biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.
Với tinh thần “lấy dân làm gốc”, các cơ quan Nhà nước và chính quyền các cấp, nhất là cấp xã, phải biết lắng nghe các ý kiến của Nhân dân, nắm bắt dư luận xã hội một cách nghiêm túc, phân tích nội dung các ý kiến của dân, dư luận xã hội một cách khoa học để nắm bắt chính xác, kịp thời tâm trạng, tình cảm, nguyện vọng của Nhân dân. Có thể nói, nội dung “dân bàn” là một trong những sự phản biện xã hội tốt nhất đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giúp cho các đường 12 Luan van lối, chính sách, pháp luật phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn đời sống trên địa bàn cơ sở. Thứ ba, “Dân làm” là sự hiện thực hóa tư tưởng đã thông suốt thành những hành động, việc làm cụ thể. Từ chỗ được cung cấp thông tin một cách công khai, trung thực, kịp thời, qua bàn bạc, trao đổi ý kiến để tìm ra tiếng nói chung, có được sự đồng thuận giữa chính quyền và Nhân dân, người dân sẽ tự giác tuân thủ, thực hiện các quy định của pháp luật, hăng hái, nhiệt tình trong lao động sản xuất với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.
Thứ tư, “Dân kiểm tra” được thể hiện qua hoạt động giám sát của Nhân dân. Giám sát là một nội dung thực hiện dân chủ cơ sở của Nhân dân nhằm góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các đoàn thể Nhân dân trong sạch, vững mạnh. Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong phát hiện những khuyết điểm của cán bộ, công chức trong bộ máy của Đảng và Nhà nước để chấn chỉnh những sai phạm, đưa mọi hoạt động vào đúng nền nếp, kịp thời phát hiện những sai phạm để xử lý kỉ luật, tạo dựng trật tự kỷ cương, góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước và của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Do đó, quyền giám sát không chỉ thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan chuyên trách giám sát mà còn phải lôi cuốn được đông đảo Nhân dân tham gia.