Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở Chương 2: Thực trạng pháp luật về thực hiện DCCS trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực hiện DCCS – từ thực tiễn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ 1. Dân chủ cơ sở và pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở 1. Khái niệm dân chủ cơ sở “Dân chủ” là thành quả của nhân loại, thể hiện sự tiến bộ của xã hội. Có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều học giả đề cập đến khái niệm và ý nghĩa của “dân chủ.
Thuật ngữ “dân chủ” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ “Demockratia” (vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI trước công nguyên) do hai từ hợp thành: “demos” có nghĩa là Nhân dân và “kratein” có nghĩa là cai trị. Nghĩa tổng quát của “dân chủ” là cai trị bởi Nhân dân hay Nhân dân cai trị” [52, tr. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dân chủ do cách thức và mục đích tiếp cận khác nhau. Người Hy Lạp cổ đại quan niệm dân chủ là một hình thức cai trị, một hình thức chính phủ trong đó quyền lực thuộc về các tầng lớp người bình dân và tự do.
Khái niệm này đã có nhiều bổ sung quan trọng. Đặc biệt theo Abraham Lincoln(1864), điểm khởi đầu của dân chủ là “chính quyền của dân, do dân và vì dân”, Nhân dân có quyền bình đẳng về chính trị, có ảnh hưởng ngang nhau tới quy trình chính trị và chính quyền phải nhấn mạnh tới sự tham gia của đông đảo công chúng; việc cai trị của chính quyền phải nhằm tới lợi ích chung của cộng đồng [51, tr. Các bổ sung này có giá trị rất lớn trong việc xây dựng chính quyền đại diện cho dân. Democritus, một triết gia Hy Lạp cổ đại, thì lại cho rằng “Thà sống nghèo trong một nước dân chủ còn hơn cái gọi là cuộc đời hạnh phúc trong một nước độc tài, vì tự do tốt hơn nô lệ” [53].
Theo quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ luôn mang tính giai cấp, ở đó luôn tồn tại, biến đổi cùng với các cuộc đấu tranh giai cấp và sự 7 thay đổi của phương thức sản xuất chủ yếu là xã hội. Khi nói về bản chất của hình thức chính trị - nhà nước của xã hội này, Lênin đã chỉ rõ: “Nếu không khinh thường lẽ phải và không khinh thường lịch sử thì ai cũng thấy rõ chừng nào còn có những giai cấp khác nhau thì không thể nói đến dân chủ thuần túy được mà chỉ có thể nói đến dân chủ có tính giai cấp. Cái thứ dân chủ thuần túy, dân chủ vô bờ bến chẳng qua chỉ là một công thức rỗng tuếch, đầy tính giả dối và lừa bịp”. Kế thừa, vận dụng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng: “dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ”.
Dân chủ nghĩa là: thứ nhất, dân làm chủ, “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”; thứ hai, dân chủ là toàn bộ quyền lực và lợi ích đều thuộc về Nhân dân và được thực hiện thông qua các tổ chức quần chúng. Nhà nước ta là một nước dân chủ, mọi việc đều vì lợi ích của Nhân dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể Nhân dân như HĐND, MTTQ, Công đoàn, Hội nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc… những đoàn thể ấy là tổ chức, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền lợi của Nhân dân, liên lạc mật thiết với Nhân dân và chính phủ”, "bao nhiêu lợi ích đều vì dân", "quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân"[30, tr. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do.
Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định” [46, tr. Cơ sở là cái làm nền tảng cho những cái được xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển. Mỗi con người cùng tồn tại, sinh sống trên một địa bàn nhất định trong quá trình học tập, lao động, công tác và sinh hoạt, 8 mỗi cá nhân luôn có sự gắn bó mật thiết với nhau, có sự ràng buộc gắn bó với cơ quan, đơn vị, tổ chức đó là cấp cơ sở. Cơ sở là tế bào trong hệ thống chính trị nước ta, là cấp cuối cùng trong 4 cấp Trung ương, tỉnh, huyện, xã (cơ sở).
Cơ sở (xã, phường, thị trấn) là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện và kiểm nghiệm một cách chính xác nhất các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh trong thực tiễn khách quan của từng giai đoạn phát triển của lịch sử đất nước, là nơi Nhân dân trực tiếp sinh sống, lao động, sản xuất, công tác và học tập. Các quy định pháp luật về dân chủ muốn thành hiện thực, trước hết phải được thực thi tại cơ sở. Chỉ khi các quyền con người được thực hiện trước hết ở cơ sở, từng người dân có quyền được biết, được bàn, được kiểm tra giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở, lúc đó quyền con người, quyền công dân mới trở thành hiện thực và được phát huy. Là một thành tố của dân chủ chính trị, dân chủ cơ sở được xác lập, thể chế hóa và phát huy như thế nào là tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể.
Chẳng hạn, tại Trung Quốc, quá trình thực hành dân chủ cơ sở đã diễn ra khá rầm rộ trên địa bàn nông thôn từ đầu thập niên 1980. Dân chủ cơ sở ở đây được cấu thành bởi bốn yếu tố cơ bản: dân chủ bầu cử, dân chủ quyết sách, dân chủ quản lý và dân chủ giám sát [27, tr. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm thận thức sâu sắc vai trò to lớn của dân chủ và luôn chú trọng thực hiện dân chủ từ cơ sở. Tư tưởng về "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến trong bài báo Dân vận, phát hành vào ngày 15/10/1949, Người viết: "Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rằng: việc đó là lợi ích cho họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được.
Điểm thứ hai là bất kỳ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của 9 dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành.Trong lúc thi hành phải theo dõi, đôn đốc, khuyến khích. Khi hoàn thành xong phải cùng dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng". Như vậy, DCCS được hiểu là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, thể hiện đảm bảo quyền cơ bản của công dân được ghi nhận và triển khai thực hiện tại địa bàn nơi sinh sống, trong các cơ quan, đơn vị. Khái niệm pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội” [26, tr.
Quan điểm học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật đã giải thích một cách đúng đắn, khoa học về bản chất của pháp luật và những mối quan hệ của nó với các hiện tượng khác trong xã hội có giai cấp. Pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Pháp luật vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội. Mức độ đậm nhạt của tính giai cấp và xã hội của pháp luật rất khác nhau và thường hay biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, đạo đức, quan điểm, đường lối và các trào lưu chính trị của mỗi nước ở một thời kỳ lịch sử nhất định.
“Pháp luật vừa là sự phản ánh yêu cầu dân chủ, vừa là công cụ để thực hiện dân chủ”[41, tr. DCCS theo Bác Hồ thực chất là vấn đề “Dân biết,dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” nên pháp luật về thực hiện DCCS là những quy định cụ thể rõ ràng, là sự chi tiết các chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước về thực thiện DCCS để áp dụng trong thực tiễn, quy định rõ về những điều gì dân được biết, điều gì dân được tham gia bàn bạc, tham gia đóng góp ý kiến trước khi các cơ quan chức năng có thẩm quyền quyết định trên cơ sở tôn trọng và 10 quyết định theo đa số nguyện vọng, ý kiến chính đáng của Nhân dân, hiện thực hóa các ý kiến, nội dung Nhân dân tham gia vào trong các quy định pháp luật, các chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Như vậy, pháp luật về thực hiện DCCS là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các nội dung về DCCS, là điều kiện, phương tiện mà qua đó đảm bảo phát huy tốt quyền làm chủ thật sự của Nhân dân, đồng thời huy động sức sáng tạo, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia thực hiện và triển khai các nội dung của dân chủ cơ sở trong đời sống xã hội. Từ những phân tích trên có thể nhận thấy pháp luật về thực hiện DCCS có những đặc điểm đó là: Thứ nhất, pháp luật về thực hiện DCCS không tồn tại dưới dạng một văn bản luật riêng biệt, bởi có phạm vi và nội dung điều chỉnh rất rộng lớn liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Hệ thống các văn bản QPPL về thực hiện DCCS nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, trong Hiến pháp, Pháp lệnh của UBTVQH, các văn bản như Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp, Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Dân sự; Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Thanh tra, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam., Nghị định của Chính phủ và các văn bản QPPL khác nhằm thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.