Chương I: DÂN CHỦ VÀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ 21 4. Vị trí và vai trò của dân chủ Vị trí, vai trò của dân chủ trong kết cấu xã hội quyết định thuộc tính xã hội của nó. Lý luận về dân chủ của chủ nghĩa Mác bàn khá nhiều đến thuộc tính xã hội của dân chủ, tập trung vào ba vấn đề sau đây: Một là, tính giai cấp và tính xã hội phổ quát của dân chủ. Trong xã hội có giai cấp, nhà nước và dân chủ có tính giai cấp.
Chúng đều thuộc về một giai cấp nhất định, không tồn tại dân chủ và nhà nước vượt ra ngoài giai cấp. Đây là quan điểm căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong lý luận về dân chủ và lý luận về nhà nước. Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Ăngghen đã chỉ rõ: “Mọi cuộc đấu tranh trong nội bộ nhà nước, đấu tranh giữa phái dân chủ, phái quý tộc và phái quân chủ, đấu tranh cho quyền bầu cử, v., chẳng qua chỉ là những hình thức hư ảo của những cuộc đấu tranh thực sự giữa các giai cấp khác nhau”1. Chủ nghĩa Mác - Lênin hoàn toàn không phủ nhận nhà nước và dân chủ có tính xã hội phổ quát.
Trong tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848-1850, khi bình luận về vấn đề chế định Hiến pháp của phái cộng hòa tư sản Pháp, C.Mác đã chỉ ra rằng, sự thống trị về chính trị của giai cấp tư sản được Hiến pháp cố gắng đưa vào trong khuôn khổ của chủ nghĩa dân chủ, khuôn khổ này in đậm trong quá trình giúp đỡ giai cấp đối địch giành thắng lợi, đồng thời làm nguy hại cho bản thân nền tảng của giai cấp tư sản.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 22 THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG ĐIỀU KIỆN MỘT ĐẢNG. Hiến pháp, một mặt, yêu cầu từ việc giải phóng chính trị tiến đến giải phóng xã hội; mặt khác, yêu cầu không cần phải tiến hành khôi phục xã hội xong mới đến khôi phục chính trị. Những phân tích của C.Mác về tính chất của khuôn khổ chủ nghĩa dân chủ có thể được các giai cấp sử dụng chính là tính xã hội phổ quát của dân chủ.
Do đó, có thể nói, chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định tính giai cấp của nhà nước và của dân chủ; đồng thời, trên một ý nghĩa nào đó không phủ nhận tính xã hội phổ quát vốn có của nhà nước và dân chủ. Nhưng trong xã hội có đối kháng giai cấp thì tính xã hội phổ quát đó thường là thuộc về tính giai cấp. Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp, việc dân chủ có hay không có tính xã hội phổ quát và làm thế nào để có thể lý giải về tính xã hội phổ quát này thì cần phải tiếp tục nghiên cứu và thảo luận. Hai là, tính lịch sử và tính kế thừa của dân chủ.
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng cùng cấu thành nên kết cấu của xã hội, hình thái xã hội là sự tồn tại cụ thể và mang tính lịch sử; do đó, dân chủ với tư cách yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng cũng mang tính lịch sử và cụ thể, không tồn tại “dân chủ phổ quát” ở bên ngoài một giai đoạn lịch sử cụ thể nào đó. Điều này cũng giống như điều mà C.Mác từng khẳng định rằng, quyền lực tuyệt đối không thể vượt ra ngoài kết cấu kinh tế của xã hội và kết cấu kinh tế quy định sự phát triển văn hóa của xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin không phủ nhận sự tồn tại tính kế thừa của dân chủ giữa các hình thái lịch sử khác nhau. Chương I: DÂN CHỦ VÀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ 23 Ph.Ăngghen cho rằng, chế độ dân chủ Athens thời Hy Lạp cổ đại được sản sinh trực tiếp từ xã hội thị tộc.Lênin cho rằng, chế độ dân chủ Xôviết có thể kết hợp điểm hợp lý của chế độ dân chủ nghị viện với điểm hợp lý của chế độ dân chủ trực tiếp.
Xem xét từ góc độ của chủ nghĩa Mác, có thể thấy chế độ dân chủ chủ nô của Hy Lạp cổ đại là sự kế thừa chế độ dân chủ trong xã hội nguyên thuỷ, chế độ dân chủ của giai cấp tư sản cận đại là sự kế thừa chế độ dân chủ thời cổ đại, còn nhà nước dân chủ cộng hòa với tư cách hình thức đặc thù của chế độ chuyên chính vô sản cũng là sự kế thừa các hình thái dân chủ đã có trong lịch sử. Ba là, tính phương tiện và tính mục đích của dân chủ. Tính mục đích và tính phương tiện (phương pháp) của dân chủ là thống nhất biện chứng với nhau, là sự khái quát và xác định vị trí khác nhau và tác dụng không giống nhau của dân chủ trong hoạt động thực tiễn của con người. Khi xem xét một kiểu dân chủ nào đó như là mục tiêu thực tiễn trực tiếp thì nó có tính mục đích, còn khi sử dụng một kiểu dân chủ nào đó để giải quyết hoạt động thực tiễn của mình thì nó lại có tính phương tiện.
Do vậy, tính mục đích và tính phương tiện là việc dân chủ biểu hiện những vai trò khác nhau và những tác dụng khác nhau trong hoạt động thực tiễn của chúng ta. Nói một cách trừu tượng và tách khỏi những điều kiện cụ thể rằng dân chủ là mục đích hay là phương tiện, đem tách rời mối quan hệ biện chứng giữa mục đích và phương tiện, cho rằng dân chủ chỉ có thể là phương tiện mà không thể là mục đích, hoặc cho rằng chỉ là mục đích mà không phải là phương tiện đều không đúng. Với tư 24 THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG ĐIỀU KIỆN MỘT ĐẢNG. cách phương tiện, hình thức và trình độ thực hiện dân chủ được quyết định bởi hoạt động thực tiễn và mục tiêu thực tiễn mà nó phục vụ.
Với tư cách mục đích, việc thực hiện nó lại chịu sự chế ước bởi các điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể. Việc không quan tâm đến tính chất và mục đích của hoạt động thực tiễn, áp dụng một cách máy móc, tùy tiện các phương tiện của dân chủ, hoặc không quan tâm đến điều kiện lịch sử xã hội và tùy tiện xem một kiểu dân chủ nào đó như mục tiêu mà mình theo đuổi. đều là sai lầm. Tính giai cấp và tính lịch sử của dân chủ biểu hiện rõ ràng tính cụ thể và tính đặc thù của dân chủ; tính xã hội và tính kế thừa của dân chủ lại tỏ rõ tính phổ biến và tính phổ quát của dân chủ.
Không có dân chủ phổ quát, dân chủ phổ biến, dân chủ thuần tuý trong hoạt động thực tế, chúng chỉ tồn tại trong tư duy lý luận trừu tượng của con người. Nhưng trong lịch sử, sự tồn tại các hình thái cụ thể của dân chủ thường có những nhân tố mang tính phổ biến, phổ quát mà thế hệ sau có thể kế thừa và lấy đó làm gương. Tính mục đích và tính phương tiện của dân chủ là thống nhất biện chứng và dựa vào nhau để tồn tại. Phép biện chứng của chủ nghĩa Mác cho rằng, trong lịch sử nhân loại, dân chủ không ngừng phát triển và không ngừng biến đổi.
Cùng với quá trình biến đổi và phát triển này, quá trình quản lý tổ chức của xã hội cũng thay đổi theo hướng ngày càng có hiệu quả hơn và ngày càng văn minh hơn. Chúng ta có thể thấy rằng, do mối quan hệ giữa dân chủ và các nhân tố kết cấu nên xã hội tồn tại những tác dụng tương hỗ phức tạp, do dân chủ có thuộc tính xã hội phức tạp, thậm chí là mâu Chương I: DÂN CHỦ VÀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ 25 thuẫn, và do dân chủ trong các lĩnh vực khác nhau của hoạt động thực tiễn của con người có chức năng khác nhau, nên vấn đề dân chủ ngày càng thể hiện những đặc điểm mang tính tổng hợp, càng ngày càng trở thành đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội nhân văn, như triết học, chính trị học, lịch sử học, luật học, kinh tế học, xã hội học và luân lý học. Vấn đề dân chủ ở Việt Nam a) Quan niệm về dân chủ trong lịch sử Việt Nam Một là, quan niệm dân bản, sức mạnh của nhân dân - ý dân là ý trời. Lấy dân làm gốc (dân bản) là quan niệm chính trị nền tảng của Nho giáo.
Kinh Thư có câu: “Dân vi bang bản, bản cố bang ninh” (Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên ổn). Mạnh Tử phát triển tư tưởng này, coi dân là quan trọng nhất, nước đứng thứ hai, còn vua là nhẹ nhất (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Xuất phát từ truyền thống Việt Nam, với cách diễn đạt Nho giáo, các vị vua triều Lý ngay từ những buổi đầu giai đoạn tự chủ cũng khẳng định vai trò quan trọng đặc biệt của nhân dân; khẳng định sự tồn vong của đất nước, của vương quyền, sự vững mạnh của dân tộc có được hay không là nhờ vào nhân dân. Quan niệm dân bản cũng gắn liền với quan niệm thiên mệnh.
Vua là thiên tử - con trời; vì vậy, làm mọi việc phải theo ý trời. Mà ý dân là ý trời, nên có thể suy ra vua phải nghe và hành động theo ý nguyện của người dân. Khi lý giải 26 THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG ĐIỀU KIỆN MỘT ĐẢNG. việc dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, Lý Thái Tổ cũng coi đây là mệnh trời và ý dân.
Sử chép: “Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng: “Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”. Bề tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo”.
Vua cả mừng”1. Quan niệm gắn thiên mệnh với dân ý, vua phải có trách nhiệm yêu dân được quán xuyến trong nhiều triều đại sau. Ví dụ, Mạc Đăng Dung thể hiện rất rõ ràng: “Trời lập vua là vì dân, vua vâng mệnh trời là để thương dân”2.