LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Văn Kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục đánh giá, khẳng đ nh về giáo dục và đào tạo (trong đó có giáo dục nghề nghiệp), đó là giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nh m nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, b i dư ng nhân tài.
huyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu t trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận g n với thực ti n. hát triển giáo dục và đào tạo phải g n với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Trọng tâm là. đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đạo tạo phát triển ngu n nhân lực, phấn đấu trong những năm tới, tạo ra chuyển biến căn bản, mạnh m chất lư ng, hiệu quả giáo dục đào tạo làm cho giáo dục đào tạo thật sự là quốc sách hàng đầu, đáp ứng ngày càng tốt h n công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân, là yêu cầu bức thiết của toàn xã hội, yêu cầu của hội nhập quốc tế trong k nguyên toàn cầu hóa [6].
Sự phát triển của khoa học và công nghệ làm cho nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp đã được đào tạo b lạc hậu nhanh chóng. Người lao động muốn giữ được việc làm thì phải học tập và học tập liên tục, học tập suốt đời, GD&ĐT nói chung, giáo dục nghề nghiệp (GDNN) nói riêng phải được tổ chức trong một xã hội học tập mở rộng và linh hoạt, tạo điều kiện và cơ hội cho mọi người học tập suốt đời. Đòi hỏi này xuất phát từ những thay đổi về kinh tế-xã hội, toàn cầu hóa và tiến bộ của khoa học, sự phát triển của kinh tế tri thức, quá trình chuyển d ch cơ cấu nhân lực trong nước, quốc tế, nguồn nhân lực phải thường xuyên được đào tạo và cập nhật kỹ năng làm việc với một trình độ cao hơn. 2 Hiện nay, ở nước ta, đa số học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) đều mong muốn được vào học giáo dục đại học (GDĐH) mà không muốn đi vào con đường GDNN, do đó đối với GDNN cần phải xây dựng một hệ thống đào linh hoạt và liền mạch, thông suốt nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân.
Bước sang thế kỷ 21, xu hướng GDĐH chuyển từ “tinh hoa” sang “đại chúng”, từ hướng “học một lần cho suốt cả cuộc đời” sang hướng “học thường xuyên, suốt đời”, “mọi người được học tập, học thường xuyên, học suốt đời”. Để đáp ứng cho “xã hội học tập” và “con người học tập suốt đời” thì phải có một nền “giáo dục suốt đời”. Vì những lẽ đó, phát triển GDNN theo hướng mở, linh hoạt và liên thông là yêu cầu mang tính cấp thiết, đáp ứng cao nhất các nhu cầu về điều kiện, sự chuyển tiếp kết quả học tập của người học, góp phần rút ngắn thời gian học tập để đạt được trình độ như mong muốn. Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) có sứ mệnh đào tạo khoảng 70% nhân lực cho đất nước.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, GDNN đã phát triển mạnh mẽ ở nước ta, tuy nhiên còn nhiều bất cập như: Chất lượng lao động qua đào tạo GDNN chưa cao, đào tạo chưa gắn với nhu cầu của th trường lao động, với việc làm, cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng hàng năm có hàng vạn học sinh/sinh viên (HS/SV) tốt nghiệp không tìm được việc làm, trong khi các doanh nghiệp (DoN) cần nhân lực lại không tuyển dụng được lao động; Tổ chức quá trình đào tạo theo chương trình khung cứng nhắc, chưa liên thông giữa các trình độ và đang đào tạo theo niên chế nên chưa tạo thuận lợi cho người lao động có thể cần gì học nấy, học suốt đời. Ngoài ra, Sự canh tranh càng gay gắt trong toàn xã hội, sự cạnh trang giữa các sinh viên trong quá trình học tập, tìm kiếm việc làm, cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo diễn ra ngày càng khốc liệt thể hiện trong công 3 tác tuyển sinh, trong công tác đào tạo và chất lượng sản ph m qua đào tạo. Sự canh tranh khốc liệt này không chỉ diễn ra giữa các cơ sở đào tạo trong nước, mà còn là sự cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo trong nước với cơ sở đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam, bởi phương pháp đào tạo và chất lượng sản ph m của họ tạo ra sức thuyết phục hơn, chất lượng cao hơn, sinh viên ra trường dễ dàng hơn trong tìm kiếm việc làm. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học ở các cơ sở đào tạo của Việt Nam là một tất yếu.
Những bất cập này đang gây lãng phí về nguồn lực đầu tư của nhà nước, xã hội và gia đình người học; lãng phí thời gian của người học. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài tổ chức và hoạt động của Giáo dục nghề nghiệp là rất cần thiết, có ý nghĩa. Ngày 27/11/2014, Luật Giáo dục nghề nghiệp được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2015. Đây là một đạo luật đã thể chế hóa mạnh mẽ chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng theo tinh thần Ngh quyết Hội ngh lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI, giải quyết nhiều bất cập trong thực tiễn, tạo nên một diện mạo mới của hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam.
Luật Giáo dục nghề nghiệp được Quốc hội thông qua, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã hoàn thành việc trình cấp có th m quyền ban hành và ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn đào tạo trình độ sơ cấp theo quy đ nh của Luật. Năm 2017, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tích cực, chủ động, phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan có liên quan nghiên cứu, xây dựng, ban hành và trình cơ quan có th m quyền ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai Luật giáo dục nghề nghiệp. Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tính đến ngày 01/3/2019, đã có 63 văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật GDNN được ban hành (06 ngh đ nh, 07 quyết đ nh của Thủ tướng Chính phủ, 46 thông tư và 04 thông tư liên t ch). 4 Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành k p thời đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp tổ chức hoạt động đào tạo (tuyển sinh đào tạo; tiêu chu n, chế độ đối với nhà giáo; cơ sở vật chất, thiết b ; xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo; thi, kiểm tra, cấp văn bằng, chứng chỉ; kiểm đ nh chất lượng.); để Bộ LĐTBXH, cơ quan quản lý các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước (hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật về giáo dục nghề nghiệp.
văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật giáo dục nghề nghiệp đã cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp; hướng tới việc trao quyền tự chủ, tự ch u trách nhiệm và trách nhiệm giải trình cho người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp; nâng cao trách nhiệm của cơ sở giáo dục nghề nghiệp và người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp; tạo cơ chế đánh giá độc lập, sự kiểm soát của nhà nước, giám sát của xã hội; tạo điều kiện để thu hút nguồn lực của xã hội vào lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Đến nay, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên phạm vi cả nước đang vận hành đồng bộ các quy đ nh của Luật Giáo dục nghề nghiệp và chưa thấy có vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện. Trong khuôn khổ một luận văn cao học, do hạn hẹp về thời gian và kinh phí, tác giả không có tham vọng nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các giải pháp cho toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp mà lựa chọn một đ a bàn không quá rộng về diện tích, không quá đông về dân số và không quá nhiều cơ sở đào tạo giáo dục nghề nghiệp. Việc lựa chọn như vậy chỉ giúp giảm thiểu thời gian và chi phí thu thập dữ liệu, tổ chức đánh giá mà không ảnh hưởng nhiều đến kết quả nghiên cứu của luận văn.
Các phát hiện, đề xuất của luận văn hoàn toàn có thể phát triển, mở rộng đối với các đ a bàn khác cũng như đối với toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp của cả nước. 5 Xuất phát từ các lý do đó, tác giả chọn đề tài Thực thi pháp luật giáo dục nghề nghiệp - từ thực tiễn các trường Cao đẳng nghề trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội làm luận văn thạc sĩ nhằm góp phần làm rõ hơn về mặt lý thuyết và đáp ứng được yêu cầu thực tế về đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức và thực hiện luật giáo dục nghề nghiệp trên đ a bàn thành phố Hà Nội. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Ở các nước trên thế giới, nghiên cứu về đào tạo nghề, chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề được nhiều tổ chức quốc tế, các trường đại học, các viện nghiên cứu, các tổ chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ quan tâm.
Nhìn chung, các nghiên cứu có thể được thực hiện dưới 2 dạng: Nghiên cứu về vấn đề đào tạo nghề nói chung và thực thi pháp luật tại các các cơ sở đào tạo nghề nói riêng. Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) là tổ chức quốc tế lớn nhất dành sự quan tâm, sâu sắc đến giáo dục, đào tạo, hiệu quả và chất lượng của giáo dục và đào tạo. Các nghiên cứu, c m nang hướng dẫn, chương trình hợp tác, dự án phát triển của UNESCO khá nhiều, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung. Năm 2016, UNESCO xuất bản cuốn “ hiến lư c cho giáo dục nghề nghiệp 2016 - 2021 .