Chương 1: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Quản lý giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với mọi hoạt động xã hội, trong đó có QLGD, quản lý nhà trường (QLNT). Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam, trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương vẫn khảng định tinh thần Nghị quyết trung ương khóa VIII " Tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước là công tác cấp bách, là điều kiện tất yếu đảm bảo huy động lực lượng to lớn của quần chúng nhân dân, để hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị do Đảng đề ra, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân." [16] Đối với giáo dục, quản lý thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học ( QTDH), giáo dục thế hệ trẻ theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất của nhà trường phổ thông XHCN Việt Nam, trong và bằng cách đó đưa nó tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái chất lượng mới. [31] Giáo dục không còn là độc quyền của một số tầng lớp, của giai cấp thống trị nào đó nữa, mà nó là lợi ích của toàn xã hội. Giáo dục là sự nghiệp của mọi người.
Đặc biệt giáo dục gắn liền với sự phát triển, giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Đặc tính của giáo dục nó còn được thể hiện trong đường lối phát triển của mỗi quốc gia. UNESCO kiên quyết phản đối quan điểm hẹp hòi, đơn thuần chức năng về giáo dục. Ngược lại giáo dục là một phương tiện, vừa là của cá nhân, vừa là của tập thể, nhằm nuôi dưỡng một hình thức phát triển hài hòa hơn của con người.
Một sự phát triển như vậy sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trên nhân cách cơ bản của từng cá nhân và có thể góp phần hạn chế sự nghèo khổ, sự gạt ra ngoài lề xã hội, sự ngu dốt, sự áp bức và chiến tranh. Với bối cảnh của những năm đầu của thế kỷ 21, Ủy ban giáo dục quốc tế Delors mong muốn đề nghị xây dựng nền giáo dục trên các mục tiếu nền tảng là học cùng chung sống; học để biết; học để làm; học đề tồn tại, để phát triển. Đó cũng là mong muốn của mọi con người ở thế kỷ 21-thế kỷ của các nền công nghệ hiện đại, thế kỷ học tập suốt đời của con người. Để mong muốn điều đó trở thành hiệu quả thì giáo dục cần có sự quản lý.
Việc nghiên cứu về quản lý QTĐT từ trước tới nay đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, nhà quản lý và nhiều tác giả quan tâm. Đáng chú ý là: GS Trần Chí Đáo nguyên thứ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo với bài viết:" Các hướng đổi mới quản lý đại học Việt Nam trước bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay", đã đề cập tới vài dự báo về thế kỷ 21. Những thay đổi lớn về hình thái kinh tế và sự phát triển kinh tế thế giới trước sự thay đổi nhanh chóng của KHCN. Đòi hỏi phải thay đổi công tác quản lý giáo dục và đặc biệt là giáo dục bậc đại học và cao đẳng tại Việt Nam.
Các hướng đổi mới cơ bản đó là sự vận dụng đường lối lãnh đạo của Đảng về GDĐT, về sự đổi mới tư duy trong giáo dục và QLGD nêu cao vai trò và tính tự chủ của các cơ sở đào tạo trong quản lý. GS Lâm Quang Thiệp nguyên vụ trưởng vụ đại học trong bài viết:" Việc quản lý chất lượng đào tạo và cải tiến phương pháp đánh giá kết quả học tập của học viên", xem việc đánh giá kết quả học tập của học viên là một nhiệm vụ tất yếu, không thể thiếu trong quá trình giảng dạy nó có chức năng đánh giá và thẩm định chất lượng đào tạo. GS Trần Hồng Quân nguyên Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo với các bài:" Những hướng tiếp cận và giải pháp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hướng vào thế kỷ 21" Nâng cao chất lượng đào tạo đại học để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước", đã đề cập những xu hướng phát triển giáo dục thế giới thế kỷ 21, thuận lợi và thách thức đối với giáo dục Việt nam, hướng tiếp cận và một số giải pháp đổi mới giáo dục nước nhà trước thế kỷ mới. Tác giả đề cập tới việc nâng cao chất lượng đào tạo như một nhu cầu cấp bách để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
Cố GS Lê Vũ Hùng nguyên thứ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo với tác phẩm:" Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước", coi giáo dục luôn luôn là yếu tố then chốt trong tiến trình CNH, HĐH đất nước. Sự nghiệp giáo dục đào tạo chỉ có thể hoàn thiện sứ mệnh của mình nếu hệ thống các nhà trường được đảm bảo bằng đội ngũ cán bộ quản lý có đủ năng lực và phẩm chất bao gồm: đạo đức, văn hóa quản lý, tầm nh1n lý luận, khả năng tác nghiệp và phong cách điều hành tiến trình đào tạo thích hợp cho từng nhà trường, từng cơ quan của hệ thống giáo dục quốc dân. TS Nguyễn Phúc Châu trường cán bộ quản lý giáo dục trung ương với bài viết:" Nhận diện những trụ cột của hoạt động quản lý và vận dụng chúng vào đổi mới quản lý nhà trường". Đã xác định những trụ cột cựa hoạt động quản lý là: -Thể chế xã hội về lĩnh vực hoạt động của tổ chức.
-Bộ máy tổ chức và nhân lực của tổ chức. -Tài lực và vật lực của tổ chức. -Môi trường hoạt động của tổ chức. -Thông tin về lĩnh vực hoạt động của tổ chức.
TS Lê Thị Hoa Trường cán bộ quản lý giáo dục trung ương II trong bài: "Những biện pháp quản lý của hiệu trưởng để xây dựng nhà trường thành một tổ chức học tập", đã đề cập các biện pháp của hiệu trưởng để xây dựng nhà trường thành một tổ chức học tập đó là: -Nâng cao nhận thức cho cán bộ công chức trong nhà trường -Tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ về mọi mặt cho cán bộ công chức. -Khuyến khích, động viên cán bộ công chức thử nghiệm -Bồi dưỡng kỹ năng tự học cho cán bộ công chức trong nhà trường. -Xây dựng môi trường làm việc thân thiện để tạo điều kiện học tập cho cán bộ công chức. -Khen thưởng việc học tập của cán bộ công chức.
Tác giả Nguyễn Thị Hải Viện chiến lược và chương trình giáo dục có bài: " về việc bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên THCN". Theo tác giả giáo dục THCN là bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, trình độ của họ ngoài về chuyên môn, sức khỏe, học vấn, đạo đức mà là còn có khả năng linh hoạt, thích ứng cao với thị trường lao động, có tinh thần hợp tác cao với đồng nghiệp. Việc tổ chức giảng dạy phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. cần xây dựng chương trình bồi dưỡng cho giáo viên, đó là: -Bồi dưỡng thường xuyên.
-Bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học. -Bồi dưỡng phương pháp sư phạm. Kết luận: Mặc dù rất nhiều tác giả đề cập tới việc nghiên cứu quá trình QLGD, QLNT và thực tế từ việc nghiên cứu này đã mở ra sự hiểu biết rộng rãi và đa dạng về quá trình quản lý, nhưng với lĩnh vực nghiên cứu vào quá trình quản lý một trường chuyên nghiệp cụ thể, đặc biệt trường THCN trong quân đội thì rất ít hoặc chưa có. Do đó chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài này hy vọng tìm thấy cái mới trong công tác quản lý nhà trường THCN nói chung, trường THCN trong quân đội nói riêng.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO 2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO 2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam xác định:" Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào điều kiện của nước ta, là sự kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Những Nội dung cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo đó là: 2.Giáo dục toàn dân Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Một quan điểm cơ bản của chủ tịch Hồ Ch1 Minh là: giáo dục tạo ra sức mạnh của dân tộc vì: "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu".
Do vậy sau khi giành được độc lập phải khẩn trương nâng cao dân trí bằng kế hoạch giáo dục toàn dân, làm sao cho dân ta "ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Người khẳng định công việc đầu tiên là phải thanh toán nạn mù chữ, vì đó là "bước đầu nâng cao trình độ văn hóa ".Phương pháp giáo dục Về phương diện này, Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn rất lớn. Người đã nêu lên phương thức cơ bản nhất để nắm bắt toàn bộ nền văn hóa dân tộc, nhân loại, tạo nên sức mạnh to lớn của con người được đào tạo trong nhà trường XHCN là "Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội "[4]. Quan điểm này là sự chuyển hướng căn bản cách mạng về phương pháp GDĐT, nó khác hẳn phương pháp GDĐT trong nhà trường thực dân, phong kiến trước kia.
Trong nhà trường thực dân, phong kiến phương pháp GDĐT tách rời lý luận với thực tiễn, tạo ra sự khác biệt thậm chí đối lập giữa lao động trí óc với lao động chân tay, làm cho nhà trường tách khỏi xã hội, xa lạ với cuộc sống xã hội.Đào tạo, bồi dưỡng thế hệ mới: Mục tiêu có tính chiến lược của sự nghiệp giáo dục là chuẩn bị những thế hệ tương lai. Ý thức vun trồng thế hệ trẻ, kế tục sự nghiệp cách mạng là nỗi lo toan thường trực của chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đánh giá cao tiềm năng và vai trò của thế hệ trẻ, vì họ là chủ nhân của tương lai, "Việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau có quan hệ đến thành bại của dân tộc của đất nước ".Giáo dục toàn diện: Giáo dục toàn diện cũng là quan điểm lớn trong tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh.