phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng gồm: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về tăng trƣởng kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững. Chƣơng 3: Thực trạng về tăng trƣởng kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2004 - 2014. Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. 7 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Trong quá trình phát triển kinh tế trên thế giới, kể cả những nƣớc phát triển, cũng nhƣ những nƣớc đang phát triển thì vấn đề tăng trƣởng kinh tế và giảm nghèo, đặc biệt là vấn đề giảm nghèo bền vững lại đƣợc các nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu nhiều hơn trong thời đại ngày nay.
Hiện nay đói nghèo vẫn còn tồn tại ngay cả ở các nƣớc phát triển, vì vậy tăng trƣởng kinh tế và giảm nghèo luôn là vấn đề đƣợc nhiều nƣớc, nhiều học giả trên thế giới và Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên ở mỗi một giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia, mỗi học giả lại có những ý kiến, quan điểm, cách nhìn nhận việc giải quyết vấn đề tăng trƣởng kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững khác nhau tùy thuộc vào quan điểm phát triển kinh tế - xã hội của mình. Trong những năm vừa qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn đề tăng trƣởng kinh tế, phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo đƣợc đăng tải trên các báo, tạp chí, các loại sách tham khảo, chuyên khảo, các giáo trình chuyên ngành. Có thể tổng quan theo các nội dung cụ thể nhƣ sau: 1.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề tăng trƣởng kinh tế 1. Những nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và một số giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế đƣợc phát triển gắn với sự ra đời của trƣờng phái kinh tế cổ điển với hai đại biểu tiêu biểu nhất là nhà kinh tế học ngƣời Anh: Adam Smith (1723-1790) và David Ricardo (1772-1823) với những tác phẩm nổi tiếng trong đó có những nghiên cứu liên quan đến tăng trƣởng kinh tế và phát triển kinh tế. Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (xuất bản năm 1776), Adam Smith cho rằng, tăng trƣởng kinh tế là tăng đầu ra theo đầu ngƣời, hoặc tăng sản phẩm lao động. Theo ông, nguồn gốc tăng trƣởng là từ lao động, vốn, đất đai và tiến bộ kỹ 8 z thuật, trong đó lao động là nguồn gốc cơ bản để tạo ra của cải cho xã hội.
Từ đó ông cho rằng, tăng trƣởng kinh tế có đặc tính lợi suất tăng dần theo qui mô. Còn trong học thuyết “Bàn tay vô hình”, ông cho rằng Chính phủ không có vai trò thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế mà cho rằng nếu không bị Chính phủ kiểm soát, ngƣời lao động sẽ đƣợc lợi nhuận thúc đẩy để sản xuất ra dịch vụ, hàng hóa cần thiết và thông qua thị trƣờng tự do này, lợi ích cá nhân sẽ gắn liền với lợi ích xã hội. David Ricardo kế thừa các tƣ tƣởng của Adam Smith, và chịu ảnh hƣởng tƣ tƣởng về dân số học của T. Với tác phẩm nổi tiếng “Các nguyên tắc của chính trị kinh tế học và thuế khóa”, ông đã nêu bật lý thuyết về giới hạn nguồn lực đối với tăng trƣởng kinh tế.
Ông cho rằng tích lũy tƣ bản trong các ngành công nghiệp hiện đại chính là động lực dẫn đến tăng trƣởng kinh tế của một quốc gia, nhƣng do khan hiếm nguồn lực nên sản lƣợng đầu ra có lợi suất giảm dần. Nông nghiệp cũng là một ngành kinh tế quan trọng, trong đó các yếu tố cơ bản của tăng trƣởng kinh tế nông nghiệp là đất đai, lao động và vốn. Tăng trƣởng là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, phụ thuộc vào đất đai. Do đó đất đai là giới hạn của tăng trƣởng.12] Các Mác (1818-1883) đã đóng góp rất lớn vào lý thuyết tăng trƣởng kinh tế với bộ Tƣ bản nổi tiếng.
Theo ông nguồn lực của TTKT là sự tích lũy tƣ bản, trong đó các yếu tố tác động đến quá trình này là đất đai, lao động, vốn và kỹ thuật. Xét trên qui mô toàn xã hội, nguồn gốc của tích lũy là giá trị thặng dƣ do lao động làm thuê tạo ra.Mác chia hoạt động xã hội thành hai lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất. Theo Mác, chỉ có lĩnh vực sản xuất vật chất mới sáng tạo ra sản phẩm xã hội.13] Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trƣờng phái kinh tế tân cổ điển xuất hiện. Mô hình tăng trƣởng Tân cổ điển lần đầu tiên đƣợc trình bày trong bài viết có tựa đề Một đóng góp cho lý thuyết tăng trưởng kinh tế (A Contribution to Theory of Economic Growth) của Solow và Tăng trưởng kinh tế và tích lũy vốn (Economic Growth and Capital Accumulation) của Swan, cùng công bố năm 1956.
Mô hình Solow chỉ ra rằng, trong dài hạn tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế là yếu tố quyết định 9 z khối lƣợng tƣ bản và quy mô sản xuất. Tỷ lệ tiết kiệm càng cao, khối lƣợng tƣ bản càng lớn và sản lƣợng càng cao. Theo Solow, tỷ lệ đầu tƣ là yếu tố then chốt quy định một nƣớc giàu hay nghèo. Mô hình Solow cũng nhấn mạnh vai trò quyết định của tiến bộ kỹ thuật đối với TTKT hiện đại.
Mô hình này tỏ ra phù hợp với xu hƣớng hiện nay là tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và năng suất lao động có tính quyết định đối với TTKT. Bên cạnh đó Solow khẳng định rằng việc mở cửa nền kinh tế sẽ mang lại sự tăng trƣởng kinh tế về đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, đồng thời thúc đẩy việc tích lũy vốn. Ông đã bổ sung một thực tế đã đƣợc kiểm nghiệm rằng, việc hạn chế đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ làm cho khả năng tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc đang phát triển chậm lại. [67, tr19-20] Mô hình tăng trƣởng tân cổ điển (thƣờng gọi là mô hình tăng trƣởng Solow) đƣợc coi là mô hình chuẩn đầu tiên, hội tụ đƣợc khá nhiều các yếu tố quyết định tăng trƣởng kinh tế dài hạn.
Nhƣng mô hình tăng trƣởng tân cổ điển vừa là một thành công lớn, lại vừa là một thất bại lớn. Một hạn chế lớn nhất của mô hình tăng trƣởng tân cổ điển là trong dài hạn, nguồn tác động đến tốc độ tăng trƣởng thu nhập bình quân đầu ngƣời duy nhất trong mô hình này là tốc độ tăng hiệu quả lao động lại đƣợc xác định một cách ngoại sinh. Những hạn chế của mô hình tăng trƣởng tân cổ điển đã thúc đẩy nhiều hƣớng nghiên cứu mở rộng mô hình để phù hợp hơn với thực tế của các nƣớc đang phát triển và đã đƣa đến sự ra đời của các mô hình tăng trƣởng nội sinh [34]. Gọi là mô hình tăng trƣởng nội sinh là bởi các mô hình tăng trƣởng mới này cố gắng nội hóa sự tăng trƣởng, nghĩa là giải thích tăng trƣởng bên trong một mô hình của nền kinh tế.
Trong mô hình tăng trƣởng nội sinh, tăng năng suất có đƣợc từ tích lũy vốn con ngƣời hay các hoạt động phát minh sáng chế là yếu tố tạo nên tăng trƣởng dài hạn của thu nhập bình quân đầu ngƣời. Do đó, tăng năng suất - “làm việc thông minh hơn” chứ không phải là “làm việc chăm chỉ hơn” – là yếu tố thiết yếu của tăng trƣởng kinh tế nói chung [34]. Những nghiên cứu TTKT theo quan điểm hiện đại ra đời và phát triển chủ yếu trên cơ sở lý luận kinh tế học của nhà kinh tế học Anh John Maynard Keynes (1884- 10 z 1946). Khi những năm 30 của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã chứng tỏ rằng học thuyết “Tự điều tiết” nền kinh tế của các trƣờng phái cổ điển và tân cổ điển không phù hợp, lý thuyết “Bàn tay vô hình” của A.Smith trở nên kém hiệu quả.
Đòi hỏi các nhà kinh tế phải đƣa ra các học thuyết mới phù hợp hơn. Năm 1936, tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của John Maynard Keynes ra đời đã đánh dấu một trang mới của học thuyết kinh tế về lý thuyết tăng trƣởng hiện đại. Ông trình bày những quan điểm mới về nền kinh tế và vai trò của nhà nƣớc trong xã hội.Keynes, nền kinh tế khó đạt đƣợc mức sản lƣợng tiềm năng nhờ vào cơ chế tự điều chỉnh của thị trƣờng, mà chỉ có thể tiến tới một trạng thái cân bằng ở một mức sản lƣợng nào đó dƣới mức toàn dụng lao động. Vì vậy, muốn bảo đảm sự cân bằng kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp thì không thể dựa vào kinh tế thị trƣờng, mà cần có sự can thiệp của nhà nƣớc để tăng việc làm, tăng thu nhập.
Ông cho rằng, nhà nƣớc có thể sử dụng những công cụ nhƣ đầu tƣ nhà nƣớc, chính sách tiền tệ và tài chính để kích thích đầu tƣ tƣ nhân, khuyến khích tiêu dùng cá nhân cũng nhƣ tiêu dùng của nhà nƣớc.15] Năm 1954 nhà kinh tế William Arthur Lewis, trong công cuộc “Phát triển kinh tế với cung lao động không giới hạn”, đã đƣa ra mô hình lý thuyết hai khu vực tập trung vào sự chuyển đổi của nền kinh tế nông nghiệp nông thôn truyền thống sang công nghiệp đô thị hiện đại. Lý thuyết và mô hình của ông “rất có giá trị nhƣ là một phác họa lý thuyết ban đầu về quá trình phát triển của mối tƣơng tác giữa các ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế”. Trong lý thuyết của mình, ông cho rằng: “chỉ có khu vực công ngiệp hiện đại mới là ngành chủ đạo đối với quá trình TTKT còn khu vực nông nghiệp, nông thôn truyền thống chỉ phát huy tác dụng một cách bị động”. Trong khi khu vực công nghiệp hiện đại mở rộng thì “sẽ thu hút lao động dƣ thừa trong khu vực nông nghiệp truyền thống.
Lợi nhuận của khu vực hiện đại trở nên lớn hơn và lại đƣợc các nhà công nghiệp tiếp tục đầu tƣ 100% vào khu vực hiện đại. Quá trình này kéo dài liên tục mãi cho tới khi toàn bộ lao động dƣ thừa của khu vực truyền thống đã bị thu hút hết vào ngành công nghiệp hiện đại” [17, tr83-84] 11 z Trong tác phẩm “Truy tìm căn nguyên tăng trưởng” của William Easterly, NXB Lao động - Xã hội, 2009.