phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Lý luận chung về đào tạo nguồn nhân lực Chƣơng 2. Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nƣớc miền Bắc giai đoạn 2010 – 2014 và đánh giá Chƣơng 3. Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nƣớc miền Bắc Footer Page 12 of 107.
10 Header Page 13 of 107. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là khái niệm đƣợc hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con ngƣời với tƣ cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc gần đây đề cập đến khái niệm NNL với các góc độ khác nhau.
Theo Liên Hợp Quốc: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [33;3]. Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con ngƣời khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con ngƣời là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trƣờng sống của họ. Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [6;282].TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”.
Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực Footer Page 13 of 107. 11 Header Page 14 of 107.
để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn” [8;5].
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phƣơng, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con ngƣời thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con ngƣời biến thành nguồn vốn con ngƣời đáp ứng yêu cầu phát triển. NNL, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lƣợng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá. Nhƣ vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con ngƣời không chỉ đơn thuần là lực lƣợng LĐ đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia đƣợc đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Khái niệm "NNL" (Human Resoures) đƣợc hiểu nhƣ khái niệm "nguồn lực con ngƣời".
Khi đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ điều hành, thực thi chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, NNL bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi LĐ, có khả năng LĐ và những ngƣời ngoài độ tuổi LĐ có tham gia LĐ - hay còn đƣợc gọi là nguồn LĐ. Bộ phận của nguồn LĐ gồm toàn bộ những ngƣời từ độ tuổi LĐ trở lên có khả năng và nhu cầu LĐ đƣợc gọi là lực lƣợng LĐ. Nhƣ vậy, xem xét dƣới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về NNL nhƣng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: NNL là nguồn cung cấp sức LĐ cho xã hội. Con ngƣời với tƣ cách là yếu tố cấu Footer Page 14 of 107.
12 Header Page 15 of 107. thành lực lƣợng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ đƣợc xem xét đơn thuần ở góc độ số l- ƣợng hay chất lƣợng mà là sự tổng hợp của cả số lƣợng và chất lƣợng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi LĐ mà là các thế hệ con ngƣời với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Số lƣợng nguồn nhân lực: là số NLĐ làm việc trong tổ chức, thƣờng đƣợc đo lƣờng thông qua hai chỉ tiêu đó là: quy mô của NNL và tốc độ tăng của nó.
Chất lƣợng NNL của tổ chức thể hiện mối quan hệ của các yếu tố tạo nên bản chất bên trong của NNL; thƣờng đƣợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu chủ yếu: thể lực, năng lực, phẩm chất,… của NLĐ. Đào tạo nguồn nhân lực Nói về nội hàm khái niệm đào tạo, có nhiều tài liệu đã đƣa ra những cách hiểu thể hiện những quan điểm khác nhau nhƣ: Theo từ điển Tiếng Việt “đào tạo là việc làm cho người học trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [29;279]. Theo định nghĩa này, có thể hiểu từ “đào tạo” là một hoạt động trang bị cho ngƣời học năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ) theo một tiêu chuẩn nhất định để có năng lực và trở nên hữu ích trong những công việc cụ thể hoặc hoạt động xã hội nào đó. Theo Ths Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, trƣờng đại học Kinh tế quốc dân thì: “Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng) được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.
Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động Footer Page 15 of 107. 13 Header Page 16 of 107. học tập để nâng cao trình độ kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn” [10;153]. Milkovich và John W.Boudreau cho rằng: “Đào tạo là một quá trình có hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các kỹ năng, những quy tắc, khái niệm hay thái độ dẫn đến sự tương xứng tốt hơn giữa những đặc điểm của công nhân viên và những yêu cầu của công việc” [13;375].
Tuy vậy, những quan niệm về đào tạo ở trên thƣờng mang tính chất chung và tƣơng đối rộng, chƣa thực sự tập trung vào việc gắn đào tạo với quản lý NNL trong một tổ chức cụ thể. Theo Bài giảng Quản lý nguồn nhân lực của TS. Hoàng Văn Luân, Ths Nguyễn Thị Kim Chi, Ths. Phạm Anh Thƣ (2012) thì cho rằng: Đào tạo nhân lực là quá trình bù đắp những thiếu hụt về chuyên môn, kỹ năng, thái độ để người lao động đáp ứng được yêu cầu của công việc hiện tại.
Tác giả luận văn tƣơng đối đồng tình với quan niệm đào tạo theo cách tiếp cận trên. Theo đó: Hoạt động đào tạo hƣớng tới từng cá nhân cụ thể, cung cấp cho họ những kiến thức, kỹ năng, thái độ khắc phục những khiếm khuyết hiện tại để hoàn thành công việc. Đào tạo nhân lực tập trung tới công việc ở hiện tại, với chức năng là nhanh chóng bù đắp thiếu hụt nhằm hoàn thiện kết quả công việc hiện tại cho ngƣời lao động. Trong quá trình đào tạo, NLĐ sẽ đƣợc bù đắp những thiếu hụt trong học vấn, đƣợc truyền đạt những khả năng và kinh nghiệm thiết thực trong lĩnh vực chuyên môn, đƣợc cập nhật hóa kiến thức và mở rộng sự hiểu biết của mình để hoàn thành tốt công việc đƣợc giao.
Về mặt thời gian hoạt động đào tạo mang tính ngắn hạn, có xu hƣớng thoả mãn những nhu cầu trƣớc mắt của tổ chức. Đào tạo đƣợc hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho NLĐ có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng nhiệm vụ của mình. Đào tạo bao gồm các hoạt động nhằm mục tiêu nâng cao tay nghề hay kỹ năng của một cá nhân đối với công việc hiện tại, vì thế đào tạo còn đƣợc gọi là đào tạo kỹ năng. Đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện Footer Page 16 of 107.
14 Header Page 17 of 107. những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn. Đào tạo NNL theo nghĩa rộng đƣợc hiểu là hệ thống các biện pháp đƣợc sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập giúp con ngƣời tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới, thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Đó là tổng thể các hoạt động có tổ chức đƣợc thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm đem đến sự thay đổi cho NLĐ đối với công việc của họ theo chiều hƣớng tốt hơn.