mở đầu một QHLD. Các bên sẽ tiễn hành tỏa thuận, đàm phán các nội dung sẽ thực hiện hoặc được thực hiện trong tương lai; NLD sẽ năm được những quyền được hưởng và nghĩa vụ phải thực hiện trong công việc sắp tới. NSDLĐ cũng sẽ biết được NLD trong tương lai là ai, năng lực làm việc thé nào, có thé mang lại cho họ những giá trị gì”. - Giao kết HDLD dam bảo quyền và lợi ích của các bên trong QHLĐ.
Ngay từ khi bắt đầu xác lập QHLD, các bên sẽ quyết định quyền và nghĩa vụ của nhau, được 7 Đỗ Thu Hương (2017), Giao kết hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2012 và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái, luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, Tr. 12 11 quyền đưa ra các yêu cầu cũng như thỏa thuận đối với phía bên kia. QHLD có được hình thành hay không đều phụ thuộc vào bước giao kết HDLD. Nếu việc giao kết phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nguyện vọng của các bên, QHLĐ sẽ có tính ôn định, bền vững và lâu dài.
Nếu có tranh chấp, bản hợp đồng này sẽ là căn cứ dé dam bảo quyền lợi chính đáng của cả NLD và NSDLD. Vi phạm giao kết hợp đồng lao động 1. Khái niệm vi phạm giao kết hợp đồng lao động Tinh thần thượng tôn pháp luật là một trong những điều quan trọng của nhà nước pháp quyền. Tinh thần thượng tôn pháp luật là sống và làm việc theo pháp luật, làm theo những chuẩn mực của hành vi ứng xử trong các quan hệ xã hội.
HDLD tổn tại xuyên suốt quá trình thực hiện những cam kết hoàn toàn tự nguyện của các bên như một ràng buộc pháp lý, song thực tiễn đã xảy ra không ít những hành vi vi phạm các quy định về giao kết HĐLĐ. Vi phạm pháp luật được hiểu là “hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp ly thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ ”Š. Vi phạm pháp luật lao động có định nghĩa là “những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện trái các quy định của pháp luật lao động, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của NLD, NSDLD, của Nhà nước và xã hội.” Như vậy, có thé hiểu vi phạm pháp luật về giao kết HDLD là hành vi thực hiện hoặc không thực hiện hoặc thực hiện trai pháp luật về giao kết hợp đồng lao động, có lỗi của chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao động, xâm hại tới quan hệ lao động hay các quan hệ khác có liên quan đến hop dong lao động được pháp luật quy định. VỊ phạm pháp luật lao động là hiện tượng xã hội xuất hiện trong QHLD, được thé hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau, trong đó có thé là thực hiện, không thực hiện đúng các quy định về pháp luật lao động.
Chủ thé thực hiện hành vi vi phạm pháp luật là NLD, NSDLĐ, các cá nhân tô chức khác liên quan đến quan hệ lao Š Trường Dai học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, Tr.424 ? Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình luật lao động Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 12 động. Hanh vi vi phạm phải có yêu tổ lỗi của chủ thê thực hiện hành vi và giữa hành vi và hậu quả phải có môi quan hệ nhân quả với nhau. Từ những nội dung trên có thể xác định các vi phạm pháp luật về giao kết HDLD co bản gồm có vi phạm về chủ thé giao kết HDLD trong đó gồm NSDLD và NLD; vi phạm về nguyên tắc giao kết HDLD; vi phạm về hình thức, nội dung, các loại HDLD giao kết; vi phạm về trình tự giao kết hợp đồng lao động. Các trường hợp vi phạm này sẽ được phân tích cụ thé tại Chương 2 của luận văn này.
Các yếu tố câu thành vi phạm pháp luật về giao kết HDLD bao gồm: chủ thé, khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của giao kết hợp đồng lao động * Về chủ thé thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về giao kết HDLD: Chủ thé của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp ly và đã thực hiện hành vi trái pháp luật. Cụ thé trong QHLD về việc giao kết HDLD này là NSDLĐ, NLD, ngoài ra còn có đại diện NLD, đại diện NSDLD và tập thé lao động. Tuy nhiên trọng phạm vi luận văn này, người viết xin được nhóm lại thành hai nhóm chính là NLD và NSDLĐ; các nội dung này xin được trình bày chi tiết tại Chương II dưới đây. * Vé khách thé của vi phạm pháp luật về giao kết HĐLĐ: Khách thé của vi phạm pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi trai pháp luật xâm hại tới.
Trong nội dung về giao kết HDLD sẽ là các nội dung về HDLD, các quy định về thỏa thuận, ký kết, sửa đối, bố sung, chấm dứt HĐLĐ. * Vé mặt khách quan của vi phạm pháp luật về giao kết HĐLĐ: Là những dau hiệu được biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan, bao gồm: hành vi trái quy định pháp luật, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mỗi quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm. Hành vi trái pháp luật là việc thực hiện không đúng hoặc không thực hiện các quy định của pháp luật lao động về giao kết HDLD. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là gây ảnh hưởng xau đến môi trường lao động, tạo tiền lệ không tốt cho các QHLD khác và ảnh hưởng tới tính thống nhất, nghiêm minh của pháp luật.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội tức là giữa chúng phải có mối quan hệ nội tại và tất yếu với nhau. Trong hành vi đã chứa đựng mầm mống gây ra hậu quả hoặc là nguyên nhân trực tiêp gây ra hậu quả nên nó phải xảy ra 13 trước hậu quả về mặt thời gian; còn hậu quả phải là kết quả tất yếu do hành vi đó gây ra ma không phải là từ một nguyên nhân khác. Ngoài ra, còn kê đến thời gian vi phạm pháp luật, địa điểm vi phạm pháp luật; phương tiện vi phạm pháp luật (nếu có). * Vê mặt chủ quan của vi phạm pháp luật vé giao kết HĐLĐ: Day là trạng thái tâm lý thuộc bên trong của chủ thé khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động, bao gồm các yếu tố: lỗi, động cơ, mục dich vi phạm pháp luật.
Lỗi của vi phạm pháp luật về giao kết HDLD gồm có lỗi cô ý trực tiếp và cô ý gián tiếp. Lỗi cố ý trực tiếp là chủ thé thực hiện nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra, ví dụ. Trong khi đó, lỗi cố ý gián tiếp là việc chủ thể thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thê xây ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, ví dụ. Động cơ vi phạm pháp luật là động lực tâm lý bên trong thúc đây chủ thê thực hiện hành vi trái pháp luật.
Mục đích vi phạm pháp luật là cái đích trong tâm lý hay kết quả cuối cùng mà chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi trái pháp luật. Chu thể thực hiện hành vi có năng lực trách nhiệm pháp ly và đã thực hiện hành vi trái pháp luật. Phân loại vi phạm giao kết hợp dong lao động Dựa trên đối tượng bị xâm phạm trong quá trình giao kết HĐLĐ, có các loại vi phạm giao kết HDLD sau đây: * Vi phạm về nguyên tắc giao kết HĐLĐ: Là việc các chủ thé trong HDLD không tuân theo các nguyên tắc giao kết HDLD. Các nguyên tắc đó là: (i) tự nguyện, bình đăng, thiện chí, hợp tác và trung thực (ii) tự do giao kết HDLD nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thê và đạo đức xã hội.
* Vi phạm về chủ thể giao kết HDLD: Là việc NSDLD, NLD tuy không đáp ứng được các quy định của pháp luật về điều kiện chủ thể nhưng vẫn tiến hành giao kết HDLD. Vi dụ, pháp luật lao động 14 Việt Nam quy định về độ tuổi được trực tiếp giao kết một HDLD với tư cách là NLD là từ đủ 18 tuổi, nhưng NLD trong trường hợp vi phạm lại chưa đủ 15 tuôi. * Vi phạm về hình thức giao kết HDLD: Là việc các bên giao kết HĐLĐ nhưng giao kết không đúng hình thức ma pháp luật yêu cầu đối với công việc đó. Như đã đề cập, có hai hình thức giao kết HDLD là giao kết băng văn ban và giao kết bằng lời nói.
Pháp luật có quy định về một số loại công việc mà bắt buộc phải giao kết băng văn bản, nhưng chủ thé vi phạm có thé tiễn hành giao kết bằng lời nói. * Vi phạm về nội dung được giao kết trong HĐLĐ: Là việc các bên trong HĐLĐ thực hiện không đúng hoặc không thực hiện các điều kiện phải có trong một HDLD như vi phạm về tiền lương, thời gian làm việc, v. Việc vi phạm nội dung được giao kết trong HĐLĐ hay không còn phụ thuộc vào loại hình và tính chất công việc đang được giao kết. * Vi phạm về loại HĐLĐ được giao kết: Là việc các bên, mà ở đây thường là NSDLĐ, vi phạm về loại hợp đồng được giao kết tùy thuộc vào tính chất công việc theo quy định của pháp luật hiện hành.
Như đã dé cập, có 3 loại HDLD gồm (i) HDLD không xác định thời hạn (ii) HĐLĐ xác định thời han (11) HDLD theo mùa vụ. Hành vi vi phạm về loại HĐLĐ được giao kết có thể gồm có những công việc phải tiến hành giao kết HDLD xác định thời hạn, nhưng NSDLD va NLD lại tiến hành giao kết HĐLĐ theo mùa vụ. * Vi phạm vé trinh tự, thủ tục giao kết HĐLĐ: Là việc các bên giao kết HDLD vi phạm về các yêu tố như thời gian thử việc, tiền lương thử việc,. Quá trình giao kết HDLD là giai đoạn rất quan trọng, thé hiện sự hợp tác của các bên đi đến sự thống nhất ý chí và đạt được mục tiêu chung là thiết lập nên QHLĐ.