CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP THEO MÔ HÌNH KIRKPATRICK 1. Nhân lực và nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nhân lực Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực (Trường đại học Kinh tế Quốc Dân) của Trần Xuân Cầu chủ biên: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động.
Theo Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương thì “nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào việc quy định của Nhà nước về độ tuổi lao động và khả năng tham gia lao động của từng cá nhân cụ thể”. Trên phạm vi quốc gia, nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động. Đứng ở mỗi khía cạnh, nhân lực lại có một ý nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung nhân lực có thể hiểu là nguồn lực trong mỗi con người, bao gồm nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng cũng như sức khỏe, chiều cao, cân nặng, độ lớn, sức bền thể lực. trình độ, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ, ý thức.
thể lực và trí lực được thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc, năng suất, hiệu quả làm việc của con người. Nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân.
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn 7 Luan van nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Dưới góc độ kinh tế phát triển: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Như vậy, theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học… Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Mỗi tổ chức đều được cấu thành từ các nguồn lực và con người là một trong số đó. Do đó, có thể nói một cách đơn giản: nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó.
Đây chính là góc độ tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực phù hợp với nội dung đề tài nghiên cứu. Đào tạo nguồn nhân lực Theo nghĩa rộng, đào tạo nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Trước hết, đào tạo nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động học tập được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động. Các hoạt động đó có thể được tiến hành trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm tuỳ vào mục tiêu đào tạo; và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho người lao động theo hướng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ.
Như vậy, xét về nội dung, đào tạo nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển. Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề nghiệp mới thích hợp hơn trong tương lai. Đào tạo (còn gọi là đào tạo kỹ năng): là các hoạt động học tập giúp cho người lao động có khả năng thực hiện một cách hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình trong tổ chức. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm chắc hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động nhằm thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.
Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.1 So sánh đào tạo và phát triển Đào tạo Phát triển Tập trung Công việc hiện tại Công việc tương lai Phạm vi Cá nhân Cá nhân và tổ chức Thời gian Ngắn hạn Dài hạn Khắc phục sự thiếu hụt về kiến Mục đích Chuẩn bị cho tương lai thức và kỹ năng hiện tại (Nguồn: Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực (2012) – Đại học Kinh tế quốc dân) 9 Luan van 1. Mục đích, vai trò của đào tạo nguồn nhân lực 1. Mục đích Mục tiêu chung của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai. Có nhiều lý do để nói công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là quan trọng và cần được quan tâm đúng mức trong các tổ chức.
Có thể kể đến ba lý do chủ yếu: - Đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của tổ chức. Hay nói cách khác là đáp ứng yêu cầu công việc của tổ chức - Đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của người lao động - Đào tạo và phát triển là những giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp 1. Vai trò Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là điều kiện quyết định để một tổ chức có thể tồn tại và đi lên trong cạnh tranh. (1) Đối với doanh nghiệp: - Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc - Nâng cao chất lượng thực hiện công việc - Giảm bớt sự giám sát bởi lao động được đào tạo là người có khả năng tự giám sát - Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức - Duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp - Tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp (2) Đối với người lao động: - Tạo ra sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp - Khiến người lao động trở nên chuyên nghiệp 10 Luan van - Tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại cũng như công việc tương lai.
- Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động. - Làm cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ. Đây cũng chính là tiền đề cho sự phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc. (3) Đối với nền kinh tế, xã hội: - Lực lượng lao động có cơ hội tìm được việc làm cao hơn khi khoa học kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiến bộ.
- Giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu khi các nghề mới xuất hiện, nghề cũ bị thu hẹp và dần mất đi cũng với sự phát triển của xã hội. - Đẩy mạnh phát triển hợp tác trong xã hội nhờ gia tăng sự hiểu biết của lực lượng lao động. Đánh giá hiệu quả đào tạo Từ điển Tiếng Việt (1997), đánh giá được hiểu là: Nhận định giá trị. Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phân đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tạo thực trạng, điều chỉnh năng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
Đánh giá hiệu quả đào tạo là việc so sánh kết quả sau đào tạo với kỳ vọng của các cấp lãnh đạo. Mức độ khó khăn của đánh giá đào tạo tăng dần khi dùng các số đo về phản ứng, học hỏi, hành vi và kết quả.