CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Đã có rất nhiều nghiên cứu về công tác đào tạo của công ty, có thể kể ra: Tác giả Đoàn Văn Khải (2005) trong nghiên cứu về “Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam” đã làm rõ thực trạng nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu CNH, HĐH. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra những phương hướng, quan điểm chỉ đạo và những giải pháp cơ bản: nhóm giải pháp về khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực con người; nhóm giải pháp về phát triển nguồn lực con người; nhóm giải pháp xây dựng môi trường xã hội thuận lợi nhằm khai thác và phát triển hiệu quả nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam. Tác giả Ngô Thị Hồng Yến (2008) trong luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện quản lý chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng Thương mại cổ phần ngoài quốc doanh Vietcombank” đã thống kê, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoài quốc doanh. Cao Thị Hoài Thu (2009), trong luận văn về “Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khối thương mại tổng công ty Hàng không Việt Nam”, tác giả đã tổng hợp cơ sở lý luận, từ đó nghiên cứu thực trạng hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khối thương mại của tổng công ty Hàng không Việt Nam.
Từ việc xác định các ưu, nhược điểm của các hoạt động này, tác giả đã xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khối thương mại tổng công ty Hàng không Việt Nam. Nguyễn Duy Minh (2010) Hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại công ty vận tải đa phương thức – VIETRANSTIMEX”. Nghiên cứu đã hệ thống hóa các lý luận về đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập theo quan điểm tổng thể thống nhất; mô tả và phân tích thực trạng về quy trình, phương pháp, hình thức đào tạo nguồn nhân lực của công ty. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy (2011) về “Trực trạng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nhân lực tại công ty bảo hiểm Prudential Việt Nam” đã xác định nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của công ty, phân tích rõ những điểm mạnh và những hạn chế của nhân viên so với yêu cầu năng lực thực tiễn mà công ty 13 cần, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để làm cho hoạt động đào tạo của công ty nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về nhân lực của công ty trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Lê Thị Ngọc Hằng (2011) về “Hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại công ty TNHH S.M”, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về đào tạo nhân lực gồm các khái niệm về đào tạo, phân loại đào tạo nguồn nhân lực, quy trình đào tạo cũng như phương pháp đào tạo nguồn nhân lực. Từ đó làm căn cứ phân tích thực trạng của công ty và đề xuất các giải pháp có liên quan. Ngoài ra có thể kể tới nghiên cứu của Ngô Hữu Phước (2012) về “Đào tạo nguồn nhân lực tại công ty cổ phần công nghiệp gốm sứ TAICERA” hay Trần Văn Khảm, Nguyễn Thị Thanh Quý (2015) về Giải pháp phát triển nguồn nhân lực Hàng không Việt Nam đến năm 2020. Đây cũng là những nghiên cứu mang lại những gợi ý nhất định cho đề tài luận văn.
Như vậy có thể thấy có khá nhiều nghiên cứu, luận văn liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực. Tuy vậy, chưa có một nghiên cứu nào về về đào tạo nguồn nhân lực cho công ty cổ phần SOVICO. Đây sẽ là “khoảng trống” để phát triển nghiên cứu. 14 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 2.
Khái niệm, vai trò của đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 2.1 Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực Trong các nguồn lực, nguồn nhân lực là một trong những nguồn quan trọng nhất. Xuất phát từ khái niệm nhân lực là tổng hợp các cá nhân cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để hình thành, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội; nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo của doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Tổng quát, nguồn nhân lực gồm số lượng và chất lượng. Số lượng bao gồm tổng thể những người trong độ tuổi lao động làm việc trong công ty.
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện giới tính, sức khỏe, trình độ, ý thức, tác phong, thái độ làm việc, trình độ chuyên môn, kiến thức, óc sáng tạo, năng lượng, nhiệt huyết và kinh nghiệm của người lao động. Nguồn nhân lực luôn vận động, thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Việc nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cho nhân lực phải không ngừng phát triển toàn diện về mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, thể chất, năng lực, sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Đứng trên góc độ một tổ chức, một doanh nghiệp thì nguồn nhân lực của một tổ chức, một doanh nghiệp là tất cả những người đag làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp đó (Hà Văn Hội, 2006).2 Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Như đã phân tích, nguồn nhân lực là nguồn lực rất quan trọng.
Để phát triển nguồn lực này, hoạt động đào tạo là rất cần thiết. Đây là hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Do đó, trong các tổ chức, công tác đào tạo cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và có kế hoạch. Với các doanh nghiệp, nguồn nhân lực chính có thể là lợi thế cạnh tranh nhưng cũng có thể là điểm 15 yếu của doanh nghiệp.
Bởi vậy, quá trình đào tạo cần được quan tâm đúng mức. Quá trình học tập của những người lao động có thể được thực hiện qua các giai đoạn. Doanh nghiệp cần phải đào tạo người lao động vì rất nhiều lý do: người lao động mới cần có sự đào tạo để có thể quen với công việc trong một môi trường lao động hòan toàn mới, qua đó họ mới có thể hòa nhập nhanh chóng và có hiệu quả trong công việc. Vậy thực chất, đào tạo là gì? Theo Phạm Đức Thành (1998), đào tạo nguồn nhân lực là những hoạt động học tập có tổ chức, được thực hiện trong những khoảng thời gian xác định nhằm đem lại sự thay đổi trong hành vi nghề nghiệp của người lao động.
Đào tạo đề cập tới việc dạy các kỹ năng thực hnafh, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống. Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thưc hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng trong mỗi doanh nghiệp.
Cụ thể: Một là, đào tạo là điều kiện tiên quyết để áp dụng tiến bộ của khoa học công nghệ vào trong doanh nghiệp. Trong thời đại kỹ thuật số như hiện nay, các hoạt động quản trị và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều cần sự hỗ trợ của công nghệ. Việc áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động kinh doanh chỉ có thể được thực hiện khi có đội ngũ nhân lực đủ trình độ thực hiện. Đội ngũ lao động chỉ có thể sử dụng các công nghệ thông qua quá trình đào tạo.
Sự phát triển của xã hội nói chung và sự phát triển của khoa học công nghệ nói riêng đặt ra những yêu cầu nhất định với việc đào tạo nguồn nhân lực. Đặc biệt là khi ngày nay các doanh nghiệp đang ngày càng chú ý hơn tới việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong hoạt động quản lý. 16 Hai là, đào tạo nguồn nhân lực là giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây là hoạt động tất yếu nếu như một doanh nghiệp muốn nâng cao khă năng cạnh tranh và vị thế của mình trên thị trường.
Ba là, đào tạo giúp nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả thực hiện công việc. Người lao động được học tập đào tạo sẽ tạo điều kiện cho họ có thể thực hiện công việc nhanh chóng với nhiều sáng kiến hơn. Như vậy, khi năng suất lao động tăng, ở một góc độ hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao. Bốn là, đào tạo nguồn nhân lực giúp doanh nghiệp có cơ hội nâng cao tính ổn định và sự năng động của mình.
Sự ổn định của doanh nghiệp được quyết định bởi nhiều nhân tố, trong đó nguồn nhân lực là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới sự ổn định của toàn bộ doanh nghiệp. Năm là, về phía người lao động, đào tạo nguồn nhân lực sẽ tạo động lực cho người lao động, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng là cơ sở để tạo ra cách tư duy mới trong công việc của họ, là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc. Với người lao động mới, họ cần có sự đào tạo để có thể quen với công việc trong một môi trường lao động hòan toàn mới, qua đó họ mới có thể hòa nhập nhanh chóng và có hiệu quả trong công việc. Với những lao động đang làm việc trong doanh nghiệp thì việc học tập của họ nhằm nâng cao khả năng cần thiết để hoàn thành ngày càng tốt công việc mà họ đang đảm nhiệm hoặc công việc đòi hỏi kỹ năng cao hơn trong tương lai.