ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm não là một trong những bệnh nhiễm trùng hệ thần kinh thường gặp nhất ở trẻ em, với tỷ lệ tử vong và di chứng cao, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Đây là một tình trạng bệnh lý nặng nề đe dọa tình mạng bệnh nhân và là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng của cộng đồng vì tỷ lệ mắc và tử vong còn cao. Tỷ lệ hiện mắc của viêm não vi rút (VNVR) trên quy mô toàn cầu rất khó để ước tính, đặc biệt là tại các nước đang phát triển. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu, tỷ lệ mắc dao động từ 3,5 - 7,4 trường hợp trên 100000 bệnh nhân/ năm, tỷ lệ này ở trẻ em cao hơn ở người lớn, khoảng trên 16 trường hợp trên 100000 bệnh nhân/ năm [1].
Tác nhân gây viêm não hiện nay đã được xác định là do nhiễm vi rút, sự phân bố vi rút gây viêm não là khác nhau trên thế giới do tính chất địa lý và khí hậu. Trên thế giới đã ghi nhận có tới trên 100 loại vi rút gây viêm não, trong đó phổ biến là nhóm vi rút Arbo và Herpes simplex [2]. Trong những năm vừa qua, thế giới ghi nhận nhiều vụ dịch VNVR do các tác nhân khác nhau như dịch viêm não do vi rút Coxsackie B5 tại Trung Quốc năm 2011 [3], dịch VNNB tại Hàn Quốc năm 2010 [4], dịch viêm não do vi rút Tây sông Nile tại Ấn Độ năm 2011 [5],… Riêng viêm não Nhật Bản (VNNB) chiếm khoảng 68.000 trường hợp riêng tại khu vực Châu Á, tử vong 13.800 trường hợp [6], tại Hoa Kỳ hay gặp viêm não do West Nile vi rút, ST Louis vi rút, viêm não do tick-born thường gặp ở các nước Châu Âu [7]. Một số loại vi rút gây viêm não có thể tản phát ở khắp nơi trên thế giới như viêm não do HSV1-2, EBV, CMV, HIV, … Ngoài ra còn gặp căn nguyên viêm não do vi khuẩn, ký sinh trùng hoặc nấm và một số ít các căn nguyên khác không phải nhiễm trùng gây viêm não như tác dụng phụ của thuốc, bệnh hệ thống dị ứng, bện tự miễn, bệnh ung thư, ngộ độc.
Tuy nhiên tỷ lệ viêm Luan van 2 não xác định được căn nguyên trên thế giới còn thấp với tỷ lệ viêm não không rõ căn nguyên có nơi lên tới 85% [8]. Theo Davison thống kê 700 trường hợp viêm não tại Anh từ năm 1989 đến năm 1998 cho thấy tỷ lệ không tìm được căn nguyên là 60% [9], tác giả Glaser thống kê 334 trường hợp viêm não tại California từ năm 1998 đến năm 2000 có tới 62% trương hợp viêm não là không tìm được căn nguyên [10]. Một nghiên cứu tại Anh từ năm 2005 đến năm 2006 trên 203 trường hợp viêm não cho thấy 63% các trường hợp xác định được căn nguyên trong đó 42% viêm não được xác định do căn nguyên nhiễm trùng còn 21% trường hợp viêm não được xác định là do yếu tố tự miễn dịch [8]. Ở nước ta theo những nghiên cứu trước đây mỗi năm cả nước có từ 2500 đến 3000 trường hợp viêm não.
Bệnh thường gặp ở trẻ em với với độ tuổi khác nhau tuỳ theo căn nguyên [11], trong đó vi rút là căn nguyên thường gặp nhất. Theo kết quả giám sát bệnh VNVR của hệ thống giám sát thường xuyên trong vòng hơn 5 năm trở lại đây, số mắc VNVR ở khu vực miền Bắc thường tập trung cao ở 5 tỉnh miền núi phía Bắc gồm: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lạng Sơn, Yên Bái. Bệnh viện Nhi Trung Ương là bệnh viện đầu ngành trong lĩnh vực về Nhi khoa. Tại khoa Truyền nhiễm, từ năm 2007 đến nay hàng năm có khoảng 500 đến 700 ca viêm não nhập viện và điều trị.
Một số căn nguyên đã được xác định như vi rút viêm não Nhật Bản, HSV1-2, EV, Rubella, CMV, thủy đậu, quai bị, vi khuẩn, một vài loại kí sinh trùng, … Tuy nhiên, số ca viêm não chưa xác định căn nguyên vẫn chiếm tỷ lệ khá cao 70% [12]. Việc các định được căn nguyên viêm não sẽ giúp ích rất nhiều cho điều trị, tiên lượng và phòng bệnh, nhưng vì nhiều lí do, tỷ lệ chưa tìm được căn nguyên còn khá cao. Trong những năm gàn đây, nhờ việc phát triển các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại, tại bệnh viện Nhi Trung ương đã xác định được thêm một số căn nguyên viêm não do vi rút khác, thêm vào đó gần đây Luan van 3 đã có thuốc điều trị đặc hiệu một số chủng vi rút tỷ lệ tử vong cao và di chứng giảm đáng kể. Vì vậy nghiên cứu xác định căn nguyên viêm não và đặc điểm dịch tễ học theo căn nguyên là điều rất cần thiết giúp cho chẩn đoán sớm, làm cơ sở phát triển sinh phẩm chẩn đoán, nâng cao chất lượng chẩn đoán, phát triển và sử dụng vắc xin nhằm dự phòng, phát hiện sớm, điều trị kịp thời, hạn chế tỷ lệ tử vong, giảm di chứng, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội đồng thời giúp cho các nhà hoạch định chính sách xây dựng kế hoạch dự phòng hiệu quả hơn chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số đặc điểm dịch tễ học và căn nguyên của bệnh viêm não ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơng, năm 2014 - 2018” với 2 mục tiêu sau: 1.
Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh viêm não ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương, năm 2014 - 2018. Xác định căn nguyên của bệnh viêm não ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương, năm 2014 - 2018. Luan van 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm chung về viêm não ở trẻ em Viêm não (encephalitis), một tình trạng viêm của nhu mô não, biểu hiện bằng sự rối loạn chức năng thần kinh-tâm thần khu trú hoặc lan tỏa.
Trên phương diện dịch tễ học cũng như sinh lý bệnh, viêm não được phân biệt với viêm màng não thông qua khám xét lâm sàng và cận lâm sàng mặc dù hai thể bệnh này điều có những triệu chứng của tình trạng viêm màng não. Viêm não hiểu theo nghĩa đen thì đó là “tình trạng viêm của não”, nghĩa là có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên thuật ngữ viêm não thường được hiểu là tình trạng viêm não gây nên do vi rút. Đây là một tình trạng bệnh lý nặng nề đe dọa tính mạng bệnh nhân. Viêm não có thể biểu hiện dưới hai thể khác nhau: thể tiên phát và thể thứ phát.
Viêm não tiên phát thường nặng nề hơn trong khi viêm não thứ phát thường gặp hơn. Tuy nhiên do thể thứ phát thường nhẹ nhàng hơn nên trong số các trường hợp nhập viện, viêm não tiên phát chiếm đa số. - Viêm não tiên phát: Viêm não này xuất hiện khi vi rút trực tiếp tấn công não và tủy sống (tủy gai). Thể viêm não này có thể xuất hiện vào bất cứ thời gian nào trong năm (viêm não tản phát: sporadic encephalitis) hoặc có thể xuất hiện theo mùa đôi khi thành dịch (viêm não dịch tễ: epidemic encephalitis).
- Viêm não thứ phát (viêm não sau nhiễm trùng (post-infectious encephalitis): Hình thức viêm não này xuất hiện khi vi rút gây bệnh ở một số cơ quan khác bên ngoài hệ thần kinh trung ương và sau đó mới ảnh hưởng đến hệ này [13]. Luan van 5 VNVR là một quá trình bệnh lý nhiễm vi rút cấp tính xảy ra ở tổ chức nhu mô não, do nhiều loại vi rút có ái lực với tế bào thần kinh gây ra. Đặc điểm lâm sàng đa dạng, nhưng chủ yếu biểu hiện là hội chứng não cấp gây rối loạn ý thức với nhiều mức độ khác nhau. Nguyên nhân gây VNVR rất đa dạng và đến nay đã xác định được trên 100 loại vi rút có khả năng gây VNVR với phân bố và mức độ trầm trọng khác nhau trong đó vi rút VNNB là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây viêm não ở trẻ em.
Viêm não - tuỷ cấp hay còn gọi là hội chứng não cấp (HCNC) là bệnh lý viêm nhiễm cấp tính tổ chức chất trắng của não và tuỷ sống. Bệnh đa phần ở nam thanh niên khoẻ mạnh, phát bệnh không theo mùa mà là quanh năm. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là triệu chứng về tâm thần kinh; hội chứng màng não bị kích thích dấu hiệu thần kinh khu trú , viêm thị thần kinh, mắt giảm hoặc mất thị lực, liệt nửa thân người hoặc liệt tứ chi. Dựa trên biểu hiện lâm sàng, người ta chia làm 3 thể: thể não, thể tuỷ sống và thể tuỷ sống - não.
Viêm não - tuỷ sống cấp tính thường do những nguyên nhân sau đây: + Sau nhiễm trùng, nhiễm độc. + Viêm não - tuỷ sống sau miễn dịch. + Viêm não - tuỷ sống chưa rõ nguyên nhân. Bệnh viêm màng não là tình trạng nhiễm trùng màng não có khả năng đe doạ đến tính mạng của người bệnh.
Bời vì màng não là cơ quan màng mô chắc bao bọc xung quanh não và tuỷ sống. Viêm màng não chủ yếu là do vi trùng hoặc siêu vi trùng từ nơi khác xâm nhập vào trong cơ thể, máu và lây lan qua não tuỷ hoặc ít hơn có thể do các loại nấm hay kí sinh trùng. Một số nguyên nhân khác có thể do phản ứng với hoá chất hay bệnh tự miễn dịch. Bất kỳ độ tuổi nào cũng có thể mắc bệnh viêm màng não nhưg chủ yếu là trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi là mắc bệnh này nhiều nhất.
Ngoài ra, người cao Luan van 6 tuổi cũng có khả năng mắc bệnh vì hệ miễn dịch của họ đã bắt đầu suy yếu ít có khả năng chống chịu với vi khuẩn và kí sinh trùng. Căn nguyên gây viêm não Nguyên nhân của viêm não thường gặp nhất là nhiễm vi rút. Một số ví dụ điển hình là do herpes-vi rút; do arbo vi rút lây truyền do muỗi, hoặc các côn trùng khác; bệnh dại gây nên do vết cắn của một số động vật nhiễm bệnh như chó, mèo. Tương tự, các bệnh lý nhiễm khuẩn cũng đôi khi gây nên viêm não như bệnh Lyme hoặc một số nhiễm ký sinh trùng cũng có thể gây viêm não như trong trường hợp Toxoplasma (ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch) và thậm chí cả giun nữa.
Các loại vi rút gây viêm não thường gặp là các vi rút Arbo, các Entero vi rút (EV), vi rút Herpes simplex, vi rút quai bị [4]. Ở Châu Á, Đông Nam Á thường gặp viêm não Nhật Bản, tại Mỹ hay gặp viêm não do West Nile vi rút, St louis vi rút. Ở các nước Châu Âu thường gặp do tick born [14].