Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh viêm gan B và virus viêm gan B 1. Lịch sử phát hiện bệnh viêm gan B Năm 1964 Baruch Blumberg đã mô tả một loại kháng nguyên (KN) đặc trưng ở thổ dân châu Đại Dương gọi là “KN Australia”. Đến năm 1968, phát hiện thấy trong máu bệnh nhân viêm gan B mãn tính có tiểu thể hình cầu và hình sợi, đường kính 27nm không chứa DNA.
Đó chính là KN bề mặt HBsAg (hepatitis B surface antigen). Hai tiểu thể này không phải là HBV (Hepatitis B virus) hoàn chỉnh vì thiếu genome. Năm 1970, người ta phát hiện thấy trong máu bệnh nhân viêm gan B có các thể hình cầu, đường kính 42nm, bên trong chứa ADN kép gọi là tiểu thể Dane. Nghiên cứu sau này xác định chính tiểu thể Dane mới là HBV thực sự [13].
Tình hình bệnh viêm gan B trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Nhiễm virus viêm gan B là một vấn đề có tính chất toàn cầu bởi HBV xuất hiện ngay cả ở các quần thể dân chúng sống cách biệt và những người sống trên các hòn đảo. Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B và cách thức lây truyền có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng khác nhau trên thế giới. Trên cơ sở điều tra huyết thanh học các dấu ấn miễn dịch của virus viêm gan B đặc biệt là HBsAg, Tổ chức Y tế Thế giới chia mức độ nhiễm virus viêm gan B thành 3 mức độ khác nhau: cao, trung bình, thấp [45], [46], [47].
Vùng lưu hành dịch cao Là vùng có tỷ lệ người mang HBsAg 8% và tỷ lệ người đã nhiễm virus viêm gan 60%. Gần 45% dân số thế giới nằm trong vùng này bao gồm hầu hết các nước thuộc khu vực Châu Á (trừ Nhật Bản, Ấn Độ), Châu Phi, hầu hết các nước Trung Đông, vùng lưu vực sông Amazon (Nam Mỹ), hầu hết các đảo thuộc khu vực Thái Bình Dương, và một số dân tộc sống ở Bắc 4 cực như Eskimo, Maoris. Việt Nam là nước được xếp là vùng lưu hành dịch cao [20].1: Sự phân bố HBV trên thế giới [50] Vùng lưu hành dịch trung bình Là vùng có tỷ lệ người mang HBsAg từ 2-7% và tỷ lệ người đã từng nhiễm virus viêm gan B từ 20-60%, 43% dân số thế giới nằm trong vùng này bao gồm Ấn Độ, một phần Trung Đông, Tây Á, Nhật Bản, Nga, Đông Âu, hầu hết các nước Nam và Trung Mỹ. Phương thức lây truyền rất đa dạng, xảy ra ở tất cả các lứa tuổi từ trẻ sơ sinh đến người lớn.
Hay gặp những trường hợp nhiễm cấp virus viêm gan B do phần lớn nhiễm trùng xảy ra ở lứa tuổi thanh niên và người lớn [34], [45]. Vùng lưu hành thấp Là vùng có tỷ lệ người mang HBsAg 2% và tỷ lệ người đã từng nhiễm virus viêm gan B 20%. 12% dân số thế giới nằm trong vùng này bao gồm các nước như Mỹ, Canada, Tây Âu, Úc, New Zealand, Bắc Mỹ, Nam Mỹ. Phương thức lây truyền chính là lây truyền ngang ở lứa tuổi trưởng thành, chủ yếu xảy ra ở các nhóm người có nguy cơ cao như tiêm chích ma 5 tuý, đồng tính luyến ái, nhân viên y tế, người được truyền máu hoặc lây nhiễm trong gia đình người nhiễm virus viêm gan B [16], [46].
Tại Việt Nam Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng lưu hành viêm gan B cao. Tỷ lệ mang HBV trong cộng đồng dân cư là 15% - 25%.000 người mắc viêm gan và tỷ lệ tử vong từ 0,7% - 0,8% [6]. Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1996, ở Việt Nam đã có hàng chục nghiên cứu về tỉ lệ mang HBsAg ở người bình thường. Mặc dù vậy nhưng các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở một vài nhóm đối tượng tại địa phương cụ thể, phân bố tại nhiều vùng trên cả nước.
Theo nghiên cứu của Hoàng Thủy Nguyên, Phạm Song, giai đoạn 1990-1997, tỉ lệ nhiễm HBV trong cộng đồng người Việt Nam: Cộng đồng người khỏe mạnh là 15% mang HBsAg và người bệnh có HBV là 45% (IgM anti-HBc) [8]. Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho kết quả tỉ lệ nhiễm HBsAg của các đối tượng nghiên cứu ở mức 2 con số. Theo nghiên cứu về tình hình viêm gan virus B ở Việt Nam (Chương trình Quốc gia - Mã số KY 01 - 09), tại Hà Nội, tỉ lệ mang HBV trong cộng đồng dân cư là 11,35 %. Tỉ lệ nhiễm HBV tại thành phố Hồ Chí Minh là 19,7% [6].
Hình thái HBV HBV thuộc loại siêu vi trùng (virus): Nhóm VII (dsDNA-RT) Họ (familia): Hepadnaviridae. Loài (species): viêm gan B. Các nghiên cứu hiển vi điện tử đã xác định hình thái của HBV. Về cấu tạo, hạt virus HBV hoàn chỉnh (Virion) có hình cầu nhỏ, đường kính 22-45 6 nm, gồm 3 lớp: lớp bao ngoài dày khoảng 7 nm, lớp vỏ Capsit hình hộp, có đường kính khoảng 27 - 28 nm và lõi chứa bộ gen của virus.
Trong huyết thanh bệnh nhân ở giai đoạn hoạt động nhân đôi virus, dưới kính hiển vi điện tử người ta thấy có 3 tiểu thể khác nhau của virus: Tiểu thể hình cầu nhỏ có đường kính 22 nm; Tiểu thể hình ống (hình que) có đường kính 20-22 nm, dài 40-400 nm; Tiểu thể hình cầu lớn có đường kính 42-45 nm còn gọi là tiểu thể Dane, đây chính là virus hoàn chỉnh [17].2: Hạt virus hoàn chỉnh Hình 1.3: Hình ảnh hiển vi điện tử (tiểu thể Dane) của HBV [17] HBV [17] 1. Cấu trúc HBV Cấu tạo của virus HBV cũng giống đại đa số các virus khác. Chúng có lớp vỏ ngoài bằng protein, có chứa trên bề mặt nhiều kháng nguyên HBs, và cấu trúc DNA bên trong. HBV là chủng virus duy nhất có cấu trúc DNA có khả năng lây truyền qua đường máu.
Quá trình sao chép DNA là quá trình phiên mã ngược nhờ một RNA trung gian. Protein kháng nguyên được lắp ráp một cách đồng dạng DNA từng phần, trình tự protein tương đồng và phản ứng chéo về huyết thanh học [25], [26]. Bộ gen của HBV là một phân tử DNA mạch kép, dạng vòng không hoàn chỉnh, kích thước khoảng 3,2Kb, được cấu tạo bởi hai chuỗi đơn ngược dấu và có chiều dài không bằng nhau. Chuỗi dài (chuỗi âm) nằm ngoài tạo 7 nên một vòng tròn liên tục có chiều dài cố định là 3,2Kb mang toàn bộ thông tin di truyền của HBV.
Chuỗi ngắn (chuỗi dương) nằm trong có kích thước thay đổi chỉ chiếm khoảng 50-80% chuỗi dài.4: Cấu trúc bộ gen HBV tương ứng với các mRNA (A) và với các protein (B) [37] Hệ gen của HBV có bốn khung đọc mở (open-reading frame) ORF gối lên nhau hoàn toàn hoặc không hoàn toàn nhằm giảm thiểu chiều dài của bộ gen, bao gồm: gen lõi C, gen bề mặt S, gen X, gen polymerase P. Các gen này mã hóa cho toàn bộ các protein của virus [44]. Sự bắt cặp bổ sung của các nucleotide trên vùng gối của hai sợi (âm và dương) được giới hạn bởi hai trình tự lặp trực tiếp DR1 và DR2 cho phép quá trình khép vòng của hệ gen xảy ra khi protein P (polymerase) liên kết đồng hóa trị với đầu 5’ của sợi âm (hình 1. Gen S là gen mã hóa cho các cấu trúc vỏ và bề mặtcủa HBV gồm 3 vùng: pre S1 (108 axít amin) và pre S2 (55 axít amin); hai vùng này mã hóa cho kháng nguyên bề mặt HBsAg, vùng S (226 axít amin) mã hóa các kiểu gen bề mặt HBsAg, vùng S (226 axít amin) mã hóa các kiểu gen.5: Gen S và P gối nhau trong cấu trúc genome của HBV [37] Gen C mã hóa cho các cấu trúc lõi bao gồm hai vùng: pre C (29 axít amin) mã hóa cho HBeAg và vùng C (183 axít amin) mã hóa cho HBcAg.
Gen P (832 axít amin) là gen dài nhất mã hóa cho DNA polymerase và cùng với RNA trung gian tham gia vào quá trình sao chép ngược của virus. Gen X gồm 154 axít amin mã hóa cho hai protein của HBV mà chức năng của chúng là tham gia vào các giai đoạn phiên mã và sao chép trong quá trình nhân đôi của HBV, cũng như đóng một vai trò chủ yếu trong sự phát triển thành ung thư gan trên bệnh nhân. Sự thay đổi trình tự của các nucleotide trên gen S dẫn đến sự thay đổi trong quá trình dịch mã và sao chép trong gen của HBV, dẫn đến có các sự khác biệt về cấu trúc tại vùng vỏ và bề mặt của HBV là nguyên nhân tạo thành 6 kiểu gen khác nhau của virus này [37]. Thành phần cấu trúc kháng nguyên HBV có ba loại kháng nguyên chính: kháng nguyên bề mặt là HBsAg, kháng nguyên lõi là HBcAg và HbeAg [15], [43].
HBsAg (Hepatitis B surface antigen) được tìm thấy ở huyết thanh và trong tế bào gan của người bị nhiễm HBV dưới dạng hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh. Kháng nguyên bề mặt này có hai dạng hình cầu và hình ống. Thành phần cấu tạo của hai dạng này gồm protein, lipid, carbonhydrat, nhưng không có acid nucleic nên được xem là dạng không hoàn chỉnh của HBV. HBsAg là chỉ điểm huyết thanh học thường được dùng để xác định nhiễm HBV [15], [43].6: Tiểu thể nhỏ hình cầu (A) và hình ống (B) của HBV [15] HBsAg xuất hiện rất sớm trước khi có triệu chứng lâm sàng, tăng cao dần và biến mất sau 4-8 tuần kể từ khi có triệu chứng.
Nếu sau 6 tháng mà vẫn còn HBsAg thì có nguy cơ chuyển thành người mang HBsAg mạn tính [15]. Sự hiện diện của HBsAg trong huyết thanh chứng tỏ có DNA của virus HBV trong tế bào gan. Định lượng HBsAg có giá trị tiên lượng, nếu trong giai đoạn bình phục hàm lượng HBsAg không nhỏ hơn ¼ so với trị số ban đầu thì có nguy cơ trở thành người mang virus mạn tính [12]. HBcAg (Hepatitis B core antigen) tìm thấy trong tế bào gan của người nhiễm HBV.
Trong huyết thanh, HBcAg hiện diện như một thành phần của virus hoàn chỉnh chứ không ở dạng tự do [43]. Cơ chế nhân lên của HBV Quá trình sao chép của HBV có thể được chia làm nhiều bước: 1. Gắn kết virus vào tế bào ký chủ; 2. Xâm nhập của virus vào tế bào (sự nhập bào); 3.
Phóng thích bộ gen virus; 4. Biểu hiện các sản phẩm gen virus; 5. Sao chép bộ gen virus; 6. Lắp ráp các hạt virion (virus hoàn chỉnh); 7.
Phóng thích virus [2]. Sự gắn kết HBV vào tế bào chủ là một trong các bước then chốt, xác định tính hướng cơ quan của virus nhờ vào các điểm gắn virus và các thụ thể tương ứng trên bề mặt tế bào. Hạt HBV hoàn chỉnh lưu thông trong máu tìm cách gắn kết vào tế bào chủ. Nhiều bằng chứng cho thấy, một vùng protein bề mặt lớn (vùng PreS1) là nơi gắn kết thụ thể.