Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với tình trạng biến dạng lòng dẫn phức tạp, trong đó cù lao Long Khánh trên sông Tiền thuộc địa bàn hai xã Long Khánh A và Long Khánh B, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp là điểm nóng về xói lở bờ sông. Lịch sử ghi nhận nhiều biến cố nghiêm trọng như trận sạt lở năm 1992 cướp đi sinh mạng của 10 người dân. Những năm gần đây, tốc độ sạt lở gia tăng nhanh chóng: tháng 8 năm 2009 một dải đất dài 150m tại ấp Long Phước bị cuốn trôi; tháng 8 năm 2014 ghi nhận sạt lở dài 30m ăn sâu 10m tại ấp Long Hòa; tiếp đó vào tháng 10 năm 2014 đoạn bờ sông tại ấp Long Thạnh sạt lở dài 45m, lấn sâu vào đất liền 15m, phá hủy tuyến đường giao thông liên ấp và buộc 4 hộ dân phải di dời khẩn cấp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự mất cân bằng thủy động lực học và biến đổi hình thái phân lưu - hợp lưu quanh cù lao, dẫn đến việc hàng trăm hecta đất canh tác hoa màu màu mỡ bị bào mòn mỗi năm. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng sạt lở, ứng dụng công cụ mô hình toán hiện đại để dự báo xu thế xói lở - bồi lắng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình tối ưu nhằm chỉnh trị dòng chảy và bảo vệ bờ cù lao.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ khu vực cù lao Long Khánh và các nhánh sông phụ cận từ Tân Châu đến Hồng Ngự, sử dụng chuỗi số liệu địa hình, thủy văn giai đoạn từ năm 1966 đến năm 2014. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chính xác, hỗ trợ giảm thiểu hơn 80% nguy cơ sạt lở bờ sông tại các vùng trọng điểm, bảo vệ tính mạng và sinh kế cho hơn 30.000 người dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa lý thuyết thủy động lực học sông ngòi và cơ học đất ứng dụng trong công trình thủy:

Thứ nhất là lý thuyết dòng chảy hai chiều không ổn định trong lòng dẫn tự nhiên, giải hệ phương trình Navier-Stokes trung bình theo chiều sâu kết hợp phương trình bảo toàn khối lượng và phương trình động lượng Saint-Venant 2D. Lý thuyết này cho phép mô phỏng sự phân bố vận tốc dòng chảy mặt, dòng chảy đáy và lực tác động thủy động tại các đoạn sông phân nhánh uốn khúc quanh cù lao.

Thứ hai là lý thuyết chuyển tải bùn cát và cân bằng động hình thái lòng dẫn, phân tích quá trình bồi xói dựa trên sự chênh lệch giữa khả năng vận chuyển bùn cát của dòng nước và lượng bùn cát thực tế đến từ thượng nguồn.

Thứ ba là lý thuyết cơ học đất về ổn định mái dốc ven sông dựa trên phương pháp cân bằng giới hạn theo các mô hình mặt trượt trụ tròn Bishop và Janbu. Các khái niệm cốt lõi được áp dụng xuyên suốt gồm: tỷ số phân chia lưu lượng giữa nhánh Long Thuận và nhánh Hồng Ngự, vận tốc khởi động của hạt bùn cát đáy, hệ số ổn định trượt mái dốc và độ sâu hố xói cục bộ tại chân bờ dốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của luận văn bao gồm hệ thống đo đạc địa hình lòng sông chi tiết trên 30 mặt cắt ngang từ MC1 đến MC30 đo đạc năm 2010, dữ liệu thủy văn mực nước và lưu lượng thực đo tại các trạm kiểm soát Tân Châu gồm TC3, TC4, TC5, cùng kết quả thí nghiệm cơ lý của 3 lớp địa chất nền đất yếu đặc trưng tại huyện Hồng Ngự.

Phương pháp chọn mẫu dữ liệu được thực hiện theo mạng lưới quan trắc trọng điểm: tập trung mật độ cao tại nút phân lưu đầu cù lao, khúc uốn cong chữ S nhánh Long Thuận - Thường Lạc và khu vực hợp lưu đuôi cù lao. Đây là những vị trí dòng chảy xiết tạo dòng xoáy hoàn lưu đáy gây sạt lở mạnh.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Nghiên cứu sử dụng mô hình toán thủy lực hai chiều MIKE 21FM của Viện Thủy lực Đan Mạch kết hợp phần mềm chuyên dụng GeoSlope của Canada. MIKE 21FM với lưới phi cấu trúc linh hoạt cho phép mô phỏng chính xác trường dòng chảy và biến đổi bùn cát trên toàn miền nghiên cứu rộng lớn. Phần mềm GeoSlope xử lý chính xác bài toán ổn định bờ dốc khi mực nước lũ rút nhanh.

Độ tin cậy của mô hình thủy lực được kiểm định thông qua hệ số hiệu quả Nash - Sutcliffe đạt giá trị trên 0.85, đảm bảo sự tương thích cao giữa số liệu tính toán và thực đo trong trận lũ lịch sử năm 2000 và các đợt quan trắc năm 2010 - 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng và tính toán đã đưa ra 4 phát hiện quan trọng về động thái lòng dẫn khu vực cù lao Long Khánh:

Một là hiện tượng phân bố dòng chảy không đều giữa hai nhánh sông. Nhánh Hồng Ngự gánh lượng nước lớn hơn trong mùa lũ, tạo dòng chảy xiết với lưu tốc vượt ngưỡng 1.8 đến 2.2 m/s tại các mặt cắt cong bờ lõm xã Long Khánh A, gây áp lực xói mòn trực tiếp lên bờ dốc.

Hai là sự dịch chuyển cục bộ của tuyến lạch sâu và hình thành các hố xói sâu nghiêm trọng. Tại mặt cắt MC6 thuộc tâm hố xói và các mặt cắt MC16, MC17, đáy sông bị khoét sâu từ 12m đến hơn 18m so với cao độ đáy tự nhiên, tạo hàm ếch nguy hiểm làm mất chân mái bờ.

Ba là sự suy giảm hệ số ổn định trượt mái đất $K_s$ tại bờ sông. Kết quả phân tích GeoSlope cho thấy tại khu vực ấp Long Thạnh (xã Long Thuận) và ấp Long Phước (xã Long Khánh A), khi mực nước sông Tiền rút nhanh sau lũ với vận tốc hạ thấp trên 0.5 m/ngày, hệ số an toàn $K_s$ giảm từ 1.35 xuống mức nguy hiểm 0.75 - 0.92, dẫn đến sạt lở dạng cung trượt sâu kéo theo toàn bộ kết cấu bờ.

Bốn là diễn biến bồi lắng bãi bồi ở nhánh phụ và đầu doi cù lao. Quá trình bồi tụ không đồng đều với khối lượng bồi lắng bùn cát hàng năm tăng khoảng 15% tại vùng đuôi cù lao, làm thu hẹp mặt cắt thoát lũ và ép tim dòng chảy thúc thẳng vào bờ hữu đối diện.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi gây sạt lở bờ cù lao Long Khánh là sự cộng hưởng giữa dòng chảy động lực mùa lũ có vận tốc lớn, dòng hoàn lưu đáy khoét sâu chân kè và cấu trúc địa chất bờ sông gồm các lớp sét pha cát có cường độ kháng cắt yếu khi bị ngấm nước kéo dài. Khi chân bờ bị xói trôi, khối đất bên trên mất điểm tựa và sụp đổ hoàn toàn theo trọng lực.

Các kết quả nghiên cứu được minh họa trực quan thông qua bản đồ đường dòng 2D, đồ thị biến thiên vận tốc dòng chảy theo thời gian từ tháng 7 đến tháng 10, và các bảng dữ liệu so sánh tỷ số lưu lượng $Q_{LT}/Q_{HN}$ tương ứng với các kịch bản công trình. Biểu đồ trích xuất từ GeoSlope thể hiện rõ cung trượt tới hạn đi xuyên qua lớp đất yếu sát mép nước.

So sánh với các nghiên cứu của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam và lý thuyết hình thái sông cong của Hickin & Nanson, kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng về quy luật dịch chuyển bờ lõm nhưng cung cấp thêm cái nhìn chi tiết về tác động của chế độ thủy triều biển Đông truyền ngược trong mùa kiệt. Điều này khẳng định nếu không có công trình điều chỉnh phân lưu, cù lao Long Khánh sẽ tiếp tục bị thu hẹp diện tích với tốc độ từ 5 đến 15 m/năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng thủy lực và tính toán độ ổn định, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật chỉnh trị và bảo vệ tổng thể:

Thứ nhất, thi công tuyến kè lát mái nghiêng gia cố bảo vệ trực tiếp mái bờ sông tại các cung sạt lở khẩn cấp thuộc xã Long Khánh A và Long Thuận với tổng chiều dài hơn 2.500m. Kết cấu sử dụng thảm đá bọc nhựa PVC hoặc các khối bê tông tự chèn lục giác đặt trên lớp vải địa kỹ thuật lọc ngược, phía dưới chân kè làm hàng cọc cừ ván hoặc lăng lăng đá hộc chống trôi chân. Mục tiêu giảm 95% hiện tượng xói rỗng thân bờ, triển khai trong giai đoạn 2015-2017 do Sở Nông nghiệp và PTNT Đồng Tháp làm chủ đầu tư.

Thứ hai, xây dựng hệ thống 3 kè mỏ hàn nắn dòng bằng đá hộc đổ rời hoặc cọc ống bê tông cốt thép tại khu vực đầu cù lao Long Khánh. Kè mỏ hàn có tác dụng đẩy dòng chảy lưu tốc lớn ra xa mép bờ, giảm lưu tốc ven bờ xuống dưới 0.8 m/s và điều hòa tỷ số phân lưu $Q_{LT}/Q_{HN}$ về mức ổn định 45/55. Thời gian thực hiện 2016-2018 dưới sự giám sát kỹ thuật của các cơ quan chuyên môn thủy lợi.

Thứ ba, bố trí công trình ngầm điều chỉnh cao trình đáy sông tại các hố xói sâu trên 15m bằng công nghệ rọ đá và thảm cát Geotube. Giải pháp này giúp chặn đứng đà đào sâu lòng dẫn, tôn tạo lại chân mái dốc tự nhiên và thúc đẩy quá trình bồi lắng bùn cát đáy trong thời gian 24 tháng.

Thứ tư, áp dụng giải pháp phi công trình kết hợp sinh học bảo vệ môi trường: trồng phục hồi đai rừng ngập nước ven sông bằng cây bần, dừa nước và thảm cỏ Vetiver với mật độ 10 cây/m² trên mái bờ taluy thoải. Đồng thời, Ủy ban nhân dân huyện Hồng Ngự cần thiết lập hành lang an toàn sạt lở 50m, lắp đặt trạm quan trắc cảnh báo sớm và nghiêm cấm hoạt động khai thác cát không phép trong bán kính 5km quanh cù lao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các nhà quản lý, hoạch định chính sách tại Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy lợi, Ban Quản lý Dự án Công trình Nông nghiệp các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang). Tài liệu hỗ trợ xây dựng quy hoạch không gian bờ sông, kế hoạch bố trí vốn đầu tư kè bảo vệ và chương trình tái định cư an toàn cho người dân vùng sạt lở.

Nhóm thứ hai là các kỹ sư tư vấn, nhà thầu thiết kế công trình thủy lợi, cảng và đường thủy nội địa. Luận văn cung cấp phương pháp chi tiết về quy trình thu thập số liệu, thiết kế sơ bộ kết cấu kè lát mái, kè mỏ hàn và tính toán độ ổn định bờ dốc trên nền đất yếu.

Nhóm thứ ba là giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Xây dựng Công trình thủy, Kỹ thuật Tài nguyên nước, Thủy lực và Thủy văn. Đề tài đóng vai trò như một case-study mẫu mực về việc ứng dụng tích hợp chuỗi phần mềm MIKE 21FM và GeoSlope vào giải quyết bài toán biến dạng lòng sông thực tế.

Nhóm thứ tư là chính quyền địa phương cấp huyện, xã (UBND huyện Hồng Ngự, xã Long Khánh A, Long Thuận) nhằm ứng dụng bản đồ khoanh vùng nguy cơ sạt lở vào công tác cảnh báo, diễn tập phòng chống thiên tai theo phương châm 4 tại chỗ.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân căn bản gây sạt lở nghiêm trọng tại cù lao Long Khánh là gì? Hiện tượng sạt lở là kết quả tổng hợp của động lực dòng chảy xiết mùa lũ với lưu tốc vượt 2.0 m/s, sự hình thành các hố xói đáy sâu hơn 15m làm mất chân kè, kết hợp với hiện tượng mực nước triều rút nhanh gây mất ổn định trượt mái dốc đất yếu.

Tại sao mô hình MIKE 21FM lại phù hợp cho nghiên cứu sạt lở cù lao sông? MIKE 21FM sử dụng lưới phi cấu trúc linh hoạt theo hình học phức tạp của lòng dẫn sông Tiền. Mô hình tích hợp đồng thời thủy động lực 2 chiều và module vận chuyển bùn cát, cho kết quả kiểm định dòng chảy đạt chỉ số Nash - Sutcliffe trên 0.85.

Hệ số ổn định an toàn mái dốc $K_s$ tại khu vực cù lao Long Khánh biến động như thế nào? Trong điều kiện tự nhiên ổn định, hệ số $K_s$ đạt trên 1.25. Tuy nhiên, khi nước lũ rút đột ngột sau mùa lũ kết hợp xói chân bờ, hệ số $K_s$ tại các mặt cắt hiểm trở giảm mạnh xuống dưới 0.90, gây ra hiện tượng sạt trượt đất hàng loạt.

Kè mỏ hàn đóng vai trò gì trong phương án bảo vệ cù lao? Kè mỏ hàn bằng đá hộc hoặc cọc bê tông có chức năng hướng dòng chảy chủ lưu ra giữa sông, giảm vận tốc nước sát bờ xuống dưới 0.8 m/s, đồng thời tạo ra các vùng nước tĩnh phía sau công trình để lắng đọng bùn cát gây bồi bảo vệ chân bờ.

Có thể sử dụng hoàn toàn giải pháp sinh học như trồng cỏ Vetiver để chống sạt lở không? Giải pháp sinh học như cỏ Vetiver và dừa nước rất hiệu quả ở mái bờ dốc thoải có lưu tốc dòng chảy dưới 1.0 m/s. Tuy nhiên, tại các điểm hố xói sâu và dòng xiết mùa lũ ở cù lao Long Khánh, bắt buộc phải kết hợp kè công trình cứng ở chân bờ với thảm phủ sinh học bên trên.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng biến dạng lòng sông và diễn biến sạt lở nghiêm trọng tại cù lao Long Khánh trên sông Tiền với chuỗi dữ liệu thực đo từ năm 1966 đến năm 2014.
  • Xây dựng thành công mô hình toán 2D MIKE 21FM kiểm định với lũ năm 2000 và tính toán ổn định cơ học đất bờ dốc bằng GeoSlope trên 30 mặt cắt ngang chi tiết.
  • Xác định được cơ chế gây xói lở chủ đạo là do tác động đồng thời của dòng chảy xiết, hố xói hạ sâu đáy sông từ 12m đến 18m và sự mất ổn định mái dốc khi mực nước rút nhanh.
  • Đề xuất tổ hợp giải pháp chỉnh trị đồng bộ gồm 2.500m kè lát mái bảo vệ bờ, hệ thống kè mỏ hàn điều chỉnh phân lưu lưu lượng và công trình ngầm Geotube chặn hố xói sâu.
  • Kết hợp hài hòa giải pháp phi công trình, trồng đai thực vật sinh thái Vetiver và thiết lập hành lang an toàn quan trắc sạt lở 50m.

Bước tiếp theo, các cơ quan chức năng cần sớm bố trí nguồn vốn đầu tư triển khai thi công thử nghiệm tuyến kè mẫu trong giai đoạn 2015-2018. Độc giả quan tâm và các đơn vị nghiên cứu có thể khai thác toàn bộ bộ thông số mô hình và bản vẽ thiết kế sơ bộ trong luận văn để áp dụng vào các dự án chỉnh trị sông thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long.