Tổng quan nghiên cứu

Quảng Ninh sở hữu dải bờ biển uốn lượn đặc thù dài trên 250 km cùng 2.077 hòn đảo, chiếm khoảng 67% tổng số đảo của cả nước và vùng ngư trường rộng lớn hơn 6.100 km2. Không gian vùng bờ đóng vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế then chốt khi tập trung khoảng 75% dân số, các đô thị trung tâm và hệ thống khu công nghiệp của toàn tỉnh. Dân số toàn tỉnh đạt 1.324.000 người với mật độ 198 người/km2, trong đó tỷ lệ đô thị hóa chạm mức 64,1% - thuộc nhóm 3 địa phương dẫn đầu cả nước. Bên cạnh lợi thế địa kinh tế vượt trội và cảnh quan Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, vùng bờ Quảng Ninh đang chịu áp lực nặng nề từ các hoạt động nhân sinh và tác động của biến đổi khí hậu.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng khai thác tài nguyên thiếu quy hoạch đồng bộ, làm nảy sinh xung đột lợi ích gay gắt giữa ngành công nghiệp khai khoáng than đá, dịch vụ du lịch, nuôi trồng thủy sản và tốc độ san lấp mặt bằng đô thị hóa. Nguồn lực tài nguyên biển chưa được phân bổ cân đối, dữ liệu quản lý còn phân tán và tình trạng suy thoái các hệ sinh thái ven bờ diễn ra nhanh chóng. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng các dạng tài nguyên vùng bờ tỉnh Quảng Ninh, chỉ ra các nguyên nhân hạn chế từ góc độ thể chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị theo định hướng quản lý tổng hợp vùng bờ.

Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 93 xã, phường, thị trấn ven biển và dải biển ven bờ có ranh giới cách bờ 6 hải lý. Dữ liệu thực chứng được thu thập và phân tích trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2019. Luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ công tác hoạch định chính sách, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế xanh và hướng tới phát triển bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Quản lý tổng hợp vùng bờ do Chua Thia-Eng khởi xướng năm 2006 cùng mô hình điều phối của Cicin-Sain và Knecht năm 1995. Quản lý tổng hợp vùng bờ được định nghĩa là tiến trình liên tục, động và toàn diện nhằm đưa ra các quyết định điều phối đa ngành, khắc phục sự manh mún của phương thức quản lý truyền thống và đảm bảo phát triển bền vững các dịch vụ sinh thái. Song song với đó, đề tài kết hợp phương pháp tiếp cận hệ sinh thái và nguyên lý quản trị tài nguyên chia sẻ đa mục đích.

Bốn khái niệm cốt lõi được áp dụng xuyên suốt bao gồm: Đới bờ, Vùng bờ theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo năm 2015, Tích hợp liên ngành theo chiều ngang và Tích hợp cấp quản lý theo chiều dọc. Cơ sở pháp trị của luận văn bám sát các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như Nghị định số 40/2016/NĐ-CP, Quyết định số 2295/QĐ-TTg về Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam và Quyết định số 914/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh từ năm 2010 đến năm 2019, các quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch tài nguyên nước và báo cáo chuyên ngành từ Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Biển và Hải đảo tỉnh Quảng Ninh. Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ 93 đơn vị hành chính cấp xã ven biển thuộc 9 huyện, thị xã, thành phố giáp biển của tỉnh. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được sử dụng để khảo sát thực địa tại các địa bàn trọng điểm như Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn và Quảng Yên.

Bốn phương pháp nghiên cứu chính được triển khai gồm: Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu tài liệu, Phương pháp ma trận vấn đề, Phương pháp xin ý kiến chuyên gia và Phương pháp kế thừa khoa học. Trong đó, phương pháp ma trận vấn đề là công cụ trung tâm được lựa chọn nhằm đối chiếu các văn bản pháp lý, nhận diện rõ ràng các mâu thuẫn chồng lấn trong sử dụng không gian giữa ngành than, du lịch, giao thông cảng biển và nuôi trồng thủy sản. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia thông qua các hội thảo giúp kiểm chứng tính chuẩn xác của các nhận định. Tiến trình thu thập và phân tích dữ liệu được triển khai tập trung trong giai đoạn 2018 đến 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu kinh tế ven biển Quảng Ninh có sự dịch chuyển mạnh mẽ khi tỷ trọng dịch vụ tăng từ 39,3% năm 2010 lên 41,2% năm 2017, công nghiệp - xây dựng chiếm 52,1% và nông lâm thủy sản giảm xuống 6,7%. Tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh đạt 117.114 tấn, gồm 62.870 tấn sản lượng khai thác và 54.245 tấn sản lượng nuôi trồng. Ngành du lịch biển đảo tăng trưởng vượt bậc với khoảng 70% trong tổng số gần 10 triệu lượt khách đến Quảng Ninh tham gia các tuyến tham quan biển đảo.

Thứ hai, nguồn tài nguyên khoáng sản và địa hình chịu tác động biến đổi sâu sắc. Quảng Ninh có trữ lượng than đạt 6,28 tỷ tấn, cung cấp hơn 90% sản lượng than khai thác của cả nước trên diện tích 1.000 km2. Hoạt động khai thác lộ thiên và đổ thải đã tạo áp lực bồi lắng bùn mịn và ô nhiễm bụi đối với Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long. Hoạt động san lấp lấn biển phát triển mạnh sau năm 2000 với diện tích lên tới 3.100 ha tại khu vực ven bờ, làm thay đổi dòng chảy ven duyên và làm suy giảm 2.100 ha rạn san hô viền bờ.

Thứ ba, hệ sinh thái rừng ngập mặn và bãi triều bị thu hẹp đáng kể. Dù tỉnh có 293.845 ha rừng ngập mặn phân bố kéo dài, diện tích này đã bị suy giảm do việc khai hoang đắp đầm nuôi thủy sản nước mặn lợ với diện tích lên tới 51.748 ha.

Thứ tư, tài nguyên nước ngọt đối mặt với tình trạng thiếu hụt cục bộ. Trữ lượng nước ngầm tầng đá gốc khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả chỉ đạt 71.000 m3/ngày, trong khi hiện tượng nhiễm mặn tầng nông và ô nhiễm nguồn nước mặt diễn ra tại nhiều cửa sông do chịu ảnh hưởng từ nước thải công nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các tồn tại trên xuất phát từ cơ chế quản lý đơn ngành biệt lập, thiếu sự kết nối ngang giữa các sở ngành phụ trách công thương, du lịch, nông nghiệp và môi trường. Ranh giới quản lý mặt biển chưa được số hóa phân định rõ ràng, dẫn đến tình trạng chồng chéo cấp phép quyền sử dụng vùng triều và mặt nước.

So với mô hình thí điểm quản lý tổng hợp vùng bờ tại Đà Nẵng của tổ chức PEMSEA và các khung quản trị quốc tế tại Hoa Kỳ hay Hàn Quốc, Quảng Ninh còn thiếu một cơ quan điều phối liên ngành đủ thẩm quyền và bộ chỉ số kiểm soát sức tải môi trường. Để trực quan hóa các dữ liệu nghiên cứu, kết quả có thể được thể hiện qua biểu đồ phân bổ cơ cấu GRDP theo ngành kinh tế biển, biểu đồ cột thể hiện tương quan giữa diện tích san lấp 3.100 ha và suy giảm sinh khối rừng ngập mặn, kết hợp bảng ma trận xung đột không gian vùng bờ để phân tích trực quan mức độ giao thoa giữa luồng hàng hải, khu bảo tồn rạn san hô và vùng nuôi thủy sản. Điều này khẳng định tính tất yếu của việc tích hợp quy hoạch không gian biển vào chiến lược quản lý dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thành lập Ban điều phối Quản lý tổng hợp vùng bờ cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo trực tiếp và Sở Tài nguyên và Môi trường làm cơ quan thường trực. Đơn vị này chịu trách nhiệm ban hành quy chế phối hợp liên ngành nhằm giải quyết dứt điểm 50% các mâu thuẫn thẩm quyền cấp phép mặt nước, hoàn thiện khung thể chế trong giai đoạn 2021-2023.

Thứ hai, thiết lập Quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng vùng bờ theo quy định của Nghị định 40/2016/NĐ-CP. Mục tiêu cụ thể là khoanh định ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt đối với 2.100 ha rạn san hô, bảo tồn 37 bãi đặc sản hải sản vùng triều và khôi phục tối thiểu 1.500 ha rừng ngập mặn phòng hộ ven biển trước năm 2025.

Thứ ba, kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải công nghiệp và phục hồi môi trường mỏ than. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam phối hợp cùng cơ quan quản lý môi trường địa phương đầu tư hệ thống xử lý đạt chuẩn 100% nước thải mỏ trước khi xả ra vịnh, thực hiện hoàn nguyên sinh thái tại các bãi thải khai thác than lộ thiên theo lộ trình 2022-2026.

Thứ tư, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa và mạng lưới quan trắc tài nguyên vùng bờ đồng bộ. Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Chi cục Biển và Hải đảo chủ trì chuẩn hóa 100% dữ liệu về địa mạo, chất lượng nước biển và trữ lượng nước ngầm 71.000 m3/ngày, kết nối liên thông dữ liệu đa ngành vào hệ thống thông tin địa lý trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Du lịch, Chi cục Biển và Hải đảo, cùng Ủy ban nhân dân 9 huyện, thị xã, thành phố ven biển của tỉnh Quảng Ninh. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và phương pháp luận ma trận giúp xây dựng quy hoạch không gian biển và kế hoạch hành động quản lý tổng hợp vùng bờ tại 93 xã, phường ven biển.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, vận tải cảng biển, đầu tư du lịch và nuôi trồng thủy sản. Tài liệu hỗ trợ các chủ dự án nắm bắt các quy định của Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo năm 2015, từ đó đánh giá tác động môi trường chính xác và xây dựng phương án kinh doanh thích ứng với định hướng kinh tế xanh.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Địa lý học, Kinh tế biển. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp đánh giá thực trạng vùng bờ tại địa phương có quy mô bể than lớn 6,28 tỷ tấn và hoạt động du lịch dịch vụ sôi động.

Nhóm thứ tư là các tổ chức quốc tế và phi chính phủ về môi trường như PEMSEA, IUCN và UNDP. Luận văn cung cấp số liệu thực chứng phục vụ việc thiết kế các dự án viện trợ bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái biển và chuyển đổi sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển miền Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Quản lý tổng hợp vùng bờ có điểm gì khác biệt cốt lõi so với phương thức quản lý đơn ngành? Quản lý tổng hợp vùng bờ khắc phục sự manh mún của quản lý đơn ngành thông qua việc kết hợp các bên liên quan theo chiều ngang giữa các ngành và chiều dọc giữa các cấp chính quyền. Mô hình này giúp dung hòa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường trên dải bờ biển dài hơn 250 km của tỉnh.

Tại sao Quảng Ninh cần khẩn trương áp dụng phương thức quản lý tổng hợp vùng bờ? Quảng Ninh tập trung 75% dân số tại vùng bờ, sở hữu 2.077 hòn đảo và bể than lớn 6,28 tỷ tấn. Tốc độ đô thị hóa 64,1% cùng lượng khách du lịch lớn tạo sức ép suy thoái sinh thái nghiêm trọng, đòi hỏi giải pháp quản lý tích hợp để giải quyết xung đột không gian.

Phạm vi không gian vùng bờ tỉnh Quảng Ninh trong nghiên cứu được xác lập như thế nào? Căn cứ Điều 8 Nghị định số 40/2016/NĐ-CP, phạm vi vùng bờ bao gồm vùng đất ven biển thuộc 93 xã, phường, thị trấn giáp biển và vùng biển ven bờ mở rộng 6 hải lý tính từ đường mép nước triều kiệt trung bình nhiều năm do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố.

Xung đột môi trường lớn nhất tại vùng ven biển Quảng Ninh là gì? Xung đột nghiêm trọng nhất diễn ra giữa hoạt động khai thác mỏ than cung cấp 90% sản lượng cả nước, san lấp 3.100 ha với yêu cầu bảo tồn Di sản Vịnh Hạ Long, 2.100 ha rạn san hô và 37 bãi giống thủy sản tự nhiên vùng triều do ô nhiễm bụi và bồi lắng trầm tích.

Phương pháp ma trận vấn đề mang lại giá trị phân tích gì cho luận văn? Phương pháp ma trận vấn đề giúp đối chiếu hiệu lực thực thi văn bản pháp luật, phân loại rõ ràng các xung đột lợi ích tài nguyên chia sẻ giai đoạn 2012-2019, làm cơ sở khoa học tin cậy để đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp điều phối liên ngành.

Kết luận

Năm đóng góp và kết luận trọng tâm từ công trình nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa khung lý luận về quản lý tổng hợp vùng bờ phù hợp với địa bàn đặc thù có 2.077 hòn đảo và ngư trường rộng trên 6.100 km2 tại Quảng Ninh.
  • Đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý và khai thác tài nguyên sinh vật, khoáng sản, đất ngập nước trên địa bàn 93 xã, phường ven biển giai đoạn 2012-2019.
  • Chỉ rõ các xung đột lợi ích sâu sắc giữa ngành công nghiệp than chiếm 90% sản lượng cả nước với hoạt động du lịch biển đảo thu hút 70% lượng khách của tỉnh.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ về kiện toàn thể chế, phân vùng không gian biển và kiểm soát ô nhiễm nguồn thải.
  • Đề xuất lộ trình triển khai chi tiết gồm hai giai đoạn: hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp giai đoạn 2021-2025 và thực thi toàn diện quy hoạch không gian biển giai đoạn 2026-2030.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan chuyên môn nhanh chóng ban hành quy chế phối hợp liên ngành, triển khai khoanh vùng bảo tồn các hệ sinh thái rạn san hô và rừng ngập mặn. Công trình luận văn khẳng định sự cấp thiết của việc đổi mới tư duy quản trị tài nguyên biển, tạo tiền đề vững chắc cho mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển đảo của địa phương trong tương lai.