Hiện trạng và giải pháp quản lý tài nguyên vùng bờ tỉnh Quảng Ninh

Luận văn thạc sĩ môi trường phân tích quản lý tài nguyên và môi trường hiện trạng công tác quản lý sử dụng tài nguyên vùng bờ tỉnh quảng, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản lý tài nguyên vùng bờ tỉnh Quảng Ninh

Tỉnh Quảng Ninh có vùng bờ biển dài và đa dạng, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Quản lý tài nguyên vùng bờ là một nhiệm vụ cấp thiết nhằm bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vùng bờ không chỉ là nơi giao thoa giữa đất liền và biển mà còn là khu vực chịu tác động mạnh mẽ từ các hoạt động kinh tế, xã hội. Việc bảo vệ tài nguyênphát triển bền vững là những yếu tố cần thiết để đảm bảo sự phát triển lâu dài cho tỉnh. Theo đó, việc đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý là rất quan trọng.

1.1. Tình hình hiện tại của tài nguyên vùng bờ

Tài nguyên vùng bờ tỉnh Quảng Ninh đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Việc khai thác tài nguyên chưa hợp lý dẫn đến tình trạng suy thoái, cạn kiệt một số nguồn tài nguyên như than và đá. Đánh giá tác động từ các hoạt động kinh tế chưa được thực hiện đầy đủ, gây ra sự mất cân đối trong việc sử dụng tài nguyên. Hơn nữa, thông tin về tài nguyên còn thiếu và chưa được chuẩn hóa, ảnh hưởng đến công tác quản lý môi trườngbảo tồn sinh thái.

II. Đánh giá hiện trạng công tác quản lý tài nguyên

Công tác quản lý tài nguyên vùng bờ tỉnh Quảng Ninh hiện nay còn nhiều hạn chế. Việc phân bổ nguồn lực chưa hợp lý, dẫn đến xung đột trong mục tiêu khai thác và sử dụng tài nguyên. Các chính sách quản lý môi trường chưa thực sự hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững. Đặc biệt, việc đánh giá tác động từ các dự án phát triển kinh tế chưa được thực hiện một cách đồng bộ, gây ra nhiều hệ lụy cho môi trường và tài nguyên. Cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

2.1. Những hạn chế trong công tác quản lý

Một số hạn chế trong công tác quản lý tài nguyên vùng bờ bao gồm việc thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, dẫn đến tình trạng quản lý chồng chéo và thiếu hiệu quả. Ngoài ra, việc bảo tồn tài nguyênphát triển kinh tế chưa được cân bằng, gây ra áp lực lớn lên môi trường. Các chính sách hiện hành chưa đủ mạnh để giải quyết các vấn đề như biến đổi khí hậubảo tồn sinh thái. Cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận quản lý để đảm bảo sự phát triển bền vững cho vùng bờ.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên

Để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên vùng bờ tỉnh Quảng Ninh, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần xây dựng một hệ thống quy hoạch vùng bờ đồng bộ, đảm bảo sự tham gia của các bên liên quan. Thứ hai, cần tăng cường công tác bảo vệ tài nguyênphát triển bền vững, thông qua việc áp dụng các công nghệ mới và phương pháp quản lý hiện đại. Cuối cùng, cần có các chính sách khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương trong công tác quản lý tài nguyên.

3.1. Đề xuất các giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể bao gồm việc xây dựng các chương trình giáo dục cộng đồng về quản lý tài nguyênbảo vệ môi trường. Cần thiết lập các cơ chế hợp tác giữa các cơ quan nhà nước và cộng đồng trong việc quản lý tài nguyên. Hơn nữa, việc áp dụng các công nghệ tiên tiến trong quản lý môi trường sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Các chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển bền vững của tỉnh Quảng Ninh.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường hiện trạng công tác quản lý sử dụng tài nguyên vùng bờ tỉnh quảng ninh và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng theo định hướng quản lý tổng hợp vùng đới bờ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số quan niệm và khái niệm cơ bản 1. Đới bờ và vùng bờ 1.Brown (1997): “Đới bờ là một vùng chuyển tiếp mà ở đó môi trường biển và môi trường lục địa tương tác lẫn nhau và hình thành một môi trường thống nhất”.

Đây là một khái niệm được sử dụng khá rộng rãi, đơn giản và phản ánh bản chất của đới bờ.L (2003) cho rằng “Đới bờ (hay còn gọi là đới tương tác hiện tại giữa lục địa và biển) là một dải tiếp giáp đất – biển không rộng. Đới bờ có bản chất độc đáo tạo nên một hợp phần vỏ cảnh quan của Trái đất và là nơi xảy ra tác động tương hỗ phức tạp”. Theo Chương trình Tương tác Đại dương – Lục địa ở đới bờ (LOICZ), ở quy mô toàn cầu, đới bờ biển: “trải rộng từ đồng bằng ven biển tới mép thềm lục địa, được xem là vùng ngập chìm và phơi cạn luân đổi trong các kỳ dao động mực biển vào thời kỳ Đệ tứ muộn”. Xét về khía cạnh sinh thái học, đới bờ là hệ chuyển tiếp giữa biển và lục địa, có sự tiếp xúc giữa các quyển: thạch quyển, sinh quyển, thủy quyển, khí quyển của Trái đất và là nơi chứa đựng các hệ sinh thái có năng suất sinh học cao nhất.

Trong đới bờ có chứa nhiều hệ tự nhiên cấp nhỏ hơn như: cửa sông, đầm phá, vũng, vịnh nhỏ, các bãi biển, đất ngập triều, đất ngập nước, vùng đất ven biển,… Đây cũng là các hệ sinh thái – nơi cư trú tự nhiên của các loài, nơi cung cấp nguồn lợi thủy sản, nơi phân bố các khoáng sản, vì thế chúng cũng là đối tượng khai thác, sử dụng của các ngành. Các hệ thống bờ (coastal system) như vậy có bản chất tự nhiên, có giá trị tài nguyên và đặc điểm môi trường khác nhau, do đó đòi hỏi phải có những phương thức khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển và quản lý phù hợp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Nhìn từ góc độ quản lý, đới bờ là nơi giao kết của ba yếu tố môi trường cơ bản: môi trường biển, môi trường lục địa và môi trường kinh tế - xã hội (hoạt động của con người). Về phương diện quản lý, đới bờ biển bao gồm vùng nước ven bờ (gồm cả các phần đất nổi trên và nằm dưới) và vùng đất ven biển (gồm cả nước mặt và nước ngầm) tương tác mạnh mẽ với nhau; gồm cả một số đơn vị hành chính ven biển, các đảo, các khu chuyển tiếp, vùng triều, bãi lầy mặn, đất ngập nước và bãi biển.

Ở Việt Nam, giới hạn phía biển của đới thường được chọn ở khoảng độ sâu 30 - 50m nước tùy vùng và giới hạn phía lục địa được lấy theo địa giới hành chính các huyện ven biển. Vùng bờ Theo Nghị định thư về quản lý tổng hợp vùng bờ ở Địa Trung Hải (Nghị định thư) thì vùng bờ được định nghĩa như sau: “Vùng bờ là vùng địa mạo hai bên của bờ biển có sự tương tác giữa phần biển và đất liền, mà tại đây xuất hiện hình thái của các hệ thống tài nguyên và sinh thái phức tạp, cấu thành các thành phần sinh vật và phi sinh vật, cùng tồn tại và tương tác với cộng đồng dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội có liên quan”. Theo quy định tại Điều 1453 - 1 Luật quản lý vùng bờ năm 1972 của Hoa Kỳ, vùng bờ được hiểu là vùng biển ven bờ và vùng đất tiếp liền bờ biển có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau, bao gồm: các đảo, vùng chuyển tiếp liên triều, đầm lầy nước mặn, vùng đất ngập nước và bãi biển. Theo quy định tại Điều 1 Luật quản lý vùng bờ năm 1999 của Hàn Quốc, vùng bờ là một thuật ngữ dùng để mô tả vùng lãnh hải quốc gia lên đến 12 hải lý hướng ra biển và địa giới hành chính của các hạt và thành phố ven biển.

Vùng bờ bao gồm vùng nước ven bờ và vùng đất ven biển. Tại Khoản 6 Điều 3 Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 của Việt Nam quy định: “Vùng bờ là khu vực chuyển tiếp giữa đất liền hoặc đảo với biển, bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Như vậy, khi so sánh với các quy định pháp luật quốc tế nêu trên, khái niệm vùng bờ theo pháp luật Việt Nam vừa có sự tương ứng nhất định lại vừa mang điểm khác biệt cơ bản khi vùng bờ được xác định cho cả trên đất liền và trên các đảo, do đó khu vực này là vùng chuyển tiếp giữa đất liền với biển hoặc giữa vùng đất trên đảo với biển. Từ những quan niệm trên cho thấy đới bờ và vùng bờ là các mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tương tác giữa lục địa và biển, giữa các hệ thống tự nhiên và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con người), giữa các ngành và những người sử dụng tài nguyên vùng đới bờ theo cả cấu trúc dọc (từ trung ương xuống địa phương) và cấu trúc ngang (các bên liên quan trong cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phương với các thành phần kinh tế khác.

Vì thế đới bờ còn được gọi là đới tương tác và các hệ sinh thái trong vùng này tồn tại và phát triển thông qua các mối liên kết sinh thái chặt chẽ 1. Xác định phạm vi vùng bờ a) Xác định phạm vi vùng bờ ở Địa Trung Hải. Tại Điều 3 Nghị định thư về quản lý tổng hợp vùng bờ ở Địa Trung Hải đã đưa ra cách xác định phạm vi vùng bờ như sau: Vùng bờ ở Địa Trung Hải là vùng địa mạo nằm về 02 hai phía của bờ biển, phía hướng ra biển và phía hướng vào đất liền. Do đó, vùng bờ được xác định bởi 02 ranh giới, gồm: ranh giới phía biển và ranh giới phía đất liền: - Ranh giới phía biển của vùng bờ là ranh giới phía ngoài của lãnh hải của quốc gia thành viên; - Ranh giới phía đất liền của vùng bờ là địa giới hành chính ven biển do quốc gia thành viên tự xác định.

Trong phạm vi chủ quyền của mình, quốc gia thành viên có thể thiết lập các ranh giới khác với điều kiện: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - Ranh giới phía biển phải bé hơn ranh giới phía ngoài của lãnh hải; - Ranh giới phía đất liền thì khác, có thể lớn hơn hoặc bé hơn ranh giới mà Nghị định thư quy định, phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và phải xem xét đến tình hình cụ thể của các đảo có liên quan đến đặc tính địa mạo của vùng bờ, đồng thời phải cân nhắc đến những ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu. b) Xác định phạm vi vùng bờ theo pháp luật Hoa Kỳ Về phạm vi của vùng bờ, Luật quản lý vùng bờ của Hoa Kỳ đã xác định như sau: - Vùng biển ven bờ là vùng mở rộng hướng ra biển được xác định: (i) trong vùng Great Lakes là các vùng biển nằm trong lãnh thổ của Hoa Kỳ bao gồm Great Lakes, các vùng nước tiếp nối, bến cảng, vũng tàu và các khu vực cửa sông như vịnh, vùng nước nông và đầm lầy; (ii) tại các khu vực khác là những vùng biển tiếp giáp với bờ biển mà có thể ước lượng khối lượng hoặc tỷ lệ nước biển tại đó, bao gồm vịnh, đầm phá, vũng và cửa sông …. - Vùng mở rộng hướng vào đất liền: tính từ đường bờ biển chỉ mở rộng vào đất liền một vùng cần thiết để kiểm soát vùng đất ven bờ biển mà việc sử dụng vùng này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp nhất định đến vùng nước ven bờ, đồng thời để kiểm soát những khu vực địa mạo mà dễ bị ảnh hưởng bởi nước biển dâng. c) Xác định phạm vi vùng bờ theo pháp luật Hàn Quốc.

Theo quy định tại Điều 1 Luật quản lý vùng bờ năm 1999 của Hàn Quốc thì vùng bờ bao gồm vùng nước ven bờ và vùng đất ven biển, theo đó: - Vùng nước ven bờ: trải dài từ đường bờ biển ra tới ranh giới ngoài của lãnh hải. Có nghĩa là ranh giới hướng ra biển của vùng bờ là ranh giới phía ngoài của lãnh hải Hàn Quốc. - Vùng đất ven biển: bao gồm cả các đảo không có người cư trú, ranh giới hướng vào đất liền của vùng bờ là 500m tính từ đường bờ biển hoặc 01km tính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn từ đường bờ biển trong trường hợp có các cảng cá, cảng thương mại và các tổ hợp khu công nghiệp. d) Xác định phạm vi vùng bờ theo pháp luật Việt Nam.

Tại khoản 1 Điều 22 Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo chỉ quy định nguyên tắc xác định phạm vi vùng bờ và giao Chính phủ quy định chi tiết về phạm vi vùng bờ tại Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 8). Từ kinh nghiệm tham khảo được của một số nước trên thế giới, phạm vi vùng bờ của Việt Nam được xác định như sau: Phạm vi của vùng bờ bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển, trong đó: - Vùng biển ven bờ có ranh giới trong là đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm (18,6 năm) và ranh giới ngoài cách đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm một khoảng cách 06 hải lý do Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định và công bố; - Vùng đất ven biển bao gồm các xã, phường, thị trấn có biển. c) Ranh giới của đới bờ, vùng bờ. Giới hạn về phía đất liền (landward) của đới bờ có thể thay đổi và thường là rìa của các đồng bằng châu thổ hiện đại, ranh giới xâm nhập mặn hoặc đơn vị hành chính ven biển (tỉnh hoặc huyện ven biển).

Giới hạn về phía biển (seaward) của đới bờ là mép của thềm lục địa tính từ đường bờ. Trong giới hạn nói trên xảy ra các hoạt động tương tác giữa các quá trình nói trên và đới bờ là thuật ngữ dùng trong trường hợp quản lý ở quy mô lớn (toàn cầu hay toàn quốc gia).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giải pháp nâng cao quản lý tài nguyên vùng bờ tỉnh Quảng Ninh" trình bày những phương pháp hiệu quả nhằm cải thiện công tác quản lý tài nguyên vùng bờ, từ đó bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho khu vực này. Các giải pháp được đề xuất không chỉ giúp tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức quản lý tài nguyên một cách hiệu quả, đồng thời hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sống.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về quản lý tài nguyên và môi trường, hãy tham khảo thêm các bài viết như Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp tại Đông Triều, Quảng Ninh, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển kinh tế trong bối cảnh bảo vệ tài nguyên. Bên cạnh đó, bài viết Tăng cường quản lý tài nguyên rừng huyện Nông Sơn, Quảng Nam sẽ giúp bạn hiểu thêm về các biện pháp quản lý rừng hiệu quả. Cuối cùng, bài viết Giải pháp quản lý tài nguyên đất đai tại quận Hà Đông, Hà Nội cũng là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến quản lý tài nguyên đất đai.