MỞ ĐẦU 1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Mục tiêu chung của Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1445/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 định hướng công nghiệp hóa vào năm 2020, hiện đại hóa vào năm 2030. Cụ thể, đến năm 2020, tổng sản lượng thủy sản khoảng 7,0 triệu tấn, trong đó, sản lượng khai thác thủy sản chiếm khoảng 35%; sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm khoảng 65%; Giá trị xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 11 tỷ USD; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7 -8%/năm (giai đoạn 2011 - 2020); Tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng xuất khẩu đạt 50%; Khoảng 50% số lao động thủy sản được đào tạo, tập huấn; Thu nhập bình quân đầu người của lao động cao gấp 3 lần hiện nay; Giảm tổn thất sau thu hoạch sản phẩm khai thác hải sản từ trên 20% hiện nay xuống dưới 10%. Đến năm 2030, định hướng đạt tổng sản lượng thủy sản khoảng 9,0 triệu tấn, trong đó, sản lượng khai thác thủy sản chiếm khoảng 30%; sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm khoảng 70%; Giá trị xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 20 tỷ USD; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6 -7%/năm (giai đoạn 2020 - 2030); Tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng xuất khẩu đạt 60%; Khoảng 80% số lao động thủy sản được đào tạo, tập huấn. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung và khu vực bán đảo Cà Mau (BĐCM) nói riêng đều có sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu phát triển nông nghiệp, trong đó mạnh mẽ nhất là chuyển đổi từ sản xuất lúa sang nuôi trồng thủy sản mặn lợ.
Sự chuyển đổi diễn ra từ năm 1999, đến nay đã khá ổn định với diện tích nuôi tôm khoảng 757. Vùng chuyển đổi mạnh nhất là các tỉnh vùng BĐCM như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang. Từ năm 2013 đến nay, ngành thủy sản BĐSCL phát triển mạnh và là vùng có sản lượng và giá trị lớn nhất cả nước. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL tương đối ổn định trong các năm qua, từ 729.300 ha năm 2011 đến năm 2017 là 757.000 ha; sản lượng thủy sản nuôi năm 2017 ước đạt 2,8 triệu tấn.
Trong đó, không những diện tích nuôi trồng phát triển nhanh, sản lượng tăng cao mà thị trường xuất khẩu mới cũng được hình thành, phát triển nhanh với sản lượng 1 tiêu thụ khá lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao, làm thay đổi cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL, góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, để hoạt động nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững, phù hợp điều kiện tự nhiên rất cần sự quy hoạch hợp lý, hỗ trợ phát triển của các cấp từ Trung ương đến địa phương tại khu vực ĐBSCL. Theo Bộ NN&PTNT, thời gian qua, hệ thống cơ sở hạ tầng ở ĐBSCL tuy được tăng cường nhưng chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển sản xuất, đặc biệt trước nguy cơ của biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Theo thống kê, năm 2017, Việt Nam thiệt hại kinh tế do thiên tai 59.300 tỉ đồng, trong đó thiệt hại từ nuôi trồng thủy, hải sản khá cao.
Một trong những bất cập của hạ tầng các vùng nuôi tôm ĐBSCL là cấp nước ngọt, nhất là vùng BĐCM, nơi cách xa nguồn nước ngọt sông Cửu Long. Trong bối cảnh đó, để phục vụ cho việc phát triển kinh tế khu vực theo hướng bền vững đề tài “Nghiên cứu giải pháp cấp nước phục vụ nuôi trồng thủy sản vùng ven biển bán đảo Cà Mau” là hết sức cần thiết và cấp bách trong thời điểm hiện nay. 2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Hiện nay, đã có nhiều công trình, các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, các giải pháp thủy lợi nhằm phục vụ cho các mô hình nuôi trồng thủy sản vùng ven biển ĐBSCL. Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học phục vụ nuôi trồng thủy sản ven biển đồng bằng sông Cửu Long.
đã giải quyết một số vấn đề về nguồn nước và giải pháp cấp nước [12]; Giải quyết vấn đề động thái nguồn nước (ngọt, mặn, xả thải từ các loại nguồn ô nhiễm) vùng bán đảo và đề xuất các biện pháp khai thác cho các ngành nông nghiệp thủy sản [15]. Gần đây vấn đề nuôi trồng thủy sản ven biển đồng bằng sông Cửu Long giải quyết các vấn đề kỹ thuật quy mô nội đòng vùng nuôi, bao gồm bố trí không gian vùng nuôi, các công trình hỗ trợ (ao cấp, ao lắng, cống, quy trình cấp nước, …) [14]. Các đề tài đạt được nhiều kết quả, nhất là đã làm rõ hiện trạng nuôi trồng thủy sản và các tồn tại trong công tác nuôi trồng thủy sản, nhất là vấn đề nguồn nước và môi trường, hạ tầng phục vụ nuôi trồng,. 2 Trong bối cảnh mới với nhiều biến động về nguồn nước ở ĐBSCL, hiện tại, Bộ Khoa học và Công nghệ đang cho thực hiện đánh giá được biến động nguồn nước, trọng tâm là xâm nhập mặn, trong tương lai dưới các tác động chính là phát triển thượng lưu và biến đổi khí hậu, từ đó đưa ra được mô hình khai thác hợp lý tài nguyên đất-nước các vùng ven biển.
Đề tài đang thực hiện và tác giả luận văn cũng được mời tham gia một phần trong đề tài [14]. Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả, song các nghiên cứu đến nay đã cho thấy vấn đề cấp nước cả nước ngọt và nước mặn phục vụ cho vùng nghiên cứu vẫn còn nhiều điểm cần đi sâu, đặc biệt là giải pháp cấp nước mặn và ngọt hỗ trợ các tiểu vùng thủy sản ven biển (thiếu cả nước mặn và nước ngọt). Đây chính là tính cấp thiết của đề tài. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề xuất được giải pháp cấp nước cho mô hình nuôi trồng thủy sản vùng ven biển BĐCM.
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nguồn nước và các mô hình nuôi trồng thủy sản hiện nay vùng Bán đảo Cà Mau đang có yêu cầu về cung cấp nước phù hợp để phát triển bền vững. - Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vùng nuôi thủy sản ven biển Bán đảo Cà Mau (thuộc các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và một phần tỉnh Kiên Giang). 5 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp kế thừa; - Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, mô hình hóa, mô phỏng hiện tượng. - Phương pháp mô hình toán; - Phương pháp chuyên gia và học tập kinh nghiệm; - Phương pháp thí nghiệm trong phòng kết hợp với phân tích tổng hợp.
3 6 KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC Làm rõ các cơ sở khoa học, thực tiễn về nguồn nước tại vùng ven biển bán đảo Cà Mau, làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp cấp nước mặn và ngọt cho nuôi trồng thủy sản vùng nghiên cứu; Đề xuất một số giải pháp cấp nước cho mô hình nuôi trồng thủy sản có tính khả thi, phù hợp với điều kiện (tự nhiên, xã hội) vùng nghiên cứu. TỒNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan trên thế giới 1.1 Tình hình nuôi thủy hải sản trên thế giới Nuôi trồng thủy sản (NTTS) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm, tiêu dùng cho con người trên toàn thế giới. Hiện tại, hơn một nửa khối lượng sản phẩm thực phẩm được tiêu thụ trên thế giới là được cung cấp từ thủy sản. Thống kê của FAO cho thấy, tỷ trọng đóng góp từ NTTS cho tiêu thụ trên toàn thế giới đã tăng từ 9% năm 1980 lên 43% như hiện nay.
Theo số liệu tổng hợp từ các tổ chức chuyên ngành thủy sản cho thấy, trong ba thập kỷ qua (1980-2010), sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới đã tăng gần 12 lần, với mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 8,8%. Sản lượng tôm nuôi trên thế giới Mặc dù có sự phát triển vượt bậc, tuy nhiên sự phát triển hầu như không đồng đều ở các châu lục, các khu vực địa lý, lãnh thổ. Trong thập niên 90 của thế kỷ trước, Châu Phi có mức tăng tương đối cao nhất từ 90.664 tấn năm 1991 lên tới 392.213 tấn năm 2000 (tăng 4,5 lần – 332,6%), tiếp theo là Nam Mỹ tăng từ 199.872 tấn (tăng 3,5 lần – 247%), sau đó là châu Á tăng từ 11. Trong đó sản lượng của Bắc Mỹ tăng hầu như không đáng kể từ 461.919 tấn (tăng 1,5 lần – 51,3%), châu Âu tăng từ 1.807 tấn (tăng 1,41 lần – 41,5%), châu Úc tăng 64.
Tuy nhiên, tỷ lệ các châu lục, các khu vực địa lý đóng góp trong sản lượng nuôi trồng thủy sản không thay đổi trong hơn một thập niên qua. Châu Á vẫn là châu lục chiếm trên dưới 90% sản lượng thủy sản nuôi trồng của thế giới với sản lượng đạt 101,559 triệu tấn năm 2004. Tỷ lệ sản lượng (SL) thủy sản nuôi trồng các khu vực Nhu cầu thị trường đối với tôm vẫn không ngừng tăng cao trong thời gian qua làm cho tôm có một giá trị hấp dẫn và ngành nuôi tôm thâm canh có đầu ra ổn định. Lợi nhuận hấp dẫn và giá trị xuất khẩu cao của tôm nuôi đã tác động đến chính sách phát triển của một số nước nuôi tôm.
Chính điều này đã làm cho nghề nuôi tôm được mở rộng và giá thành sản xuất tôm cũng thấp hơn. Nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippine, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia nghề nuôi tôm nước lợ đã tạo ra một sự chuyển đổi hiệu quả và đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nông dân. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Tổ chức Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về hoạt động nuôi tôm tại các nước ven Thái Bình Dương đã đưa ra một cảnh báo về sự suy giảm của ngành này trong khu vực. Sự suy giảm của nghề nuôi tôm nước lợ xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Sự xuất hiện và gia tăng một số bệnh, dịch lây lan trong môi trường; Môi trường 6 bị xuống cấp, suy thoái; Chất lượng nguồn nước kém…Xu hướng tăng trưởng của nghề nuôi tôm trong thập niên 80 đã không còn tiếp tục sang thập niên 90 mà bắt đầu có những dao động từ giữa thập niên 90 cho tới nay.
Những vấn đề xuất hiện và ngăn cản sự phát triển của nghề nuôi tôm bao gồm bùng phát bệnh dịch do virus, sự xuống cấp của môi trường, phá hủy rừng ngập mặn, thiếu hụt các trại nuôi tôm giống có chất lượng.