ĐẶT VẤN ĐỀ Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc lãnh thổ Việt Nam và nằm trong lưu vực sông Mekong. Sông Mekong dài 4.200 km, chảy qua 6 nước là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, có diện tích lưu vực 795.000 km2, trong đó vùng Châu thổ 49. ĐBSCL là phần cuối cùng của Châu thổ sông Mekong, bao gồm 13 tỉnh/thành là Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và TP. Cần Thơ, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, chiếm 79% diện tích toàn châu thổ và bằng 5% diện tích toàn lưu vực sông Mekong.
ĐBSCL có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Với tiềm năng nông nghiệp to lớn, trong những năm qua, ĐBSCL luôn đóng góp trên 50% tổng sản lượng lương thực, quyết định thực hiện thành công chiến lược an ninh lương thực Quốc gia và chiếm chủ đạo trong xuất khẩu gạo (hơn 90%), từ 2005 đến nay mỗi năm trung bình 4,5 – 6,0 triệu tấn. Đồng thời, ĐBSCL cũng cung cấp khoảng 70% lượng trái cây, trên 40% sản lượng thủy sản đánh bắt và trên 74,6% sản lượng thủy sản nuôi trồng của cả nước. Song song với những lợi thế của thiên nhiên đã ưu đãi cho vùng đất Cửu Long, hiện ĐBSCL đang phải đối mặt với vấn đề nước biển dâng đã và đang ảnh hưởng tới chất lượng nước ngọt phục vụ đời sống và kinh tế nông nghiệp của người dân.
Nước biển dâng (NBD) không chỉ còn là những lời mang tính cảnh báo mà thực tế đã và đang xảy ra, với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Việc xây dựng một chiến lược phát triển thuỷ lợi ứng phó với NBD không chỉ mang tính cấp thiết của vấn đề đối với kinh tế-xã hội, đây còn là yêu cầu cơ bản để xác định các nội dung tiếp theo trong quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trước khi chúng trở nên quá muộn hoặc không thể sửa chữa. -1- Nắm bắt và xử lý kịp thời về chế độ mực nước ven biển có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng, thiết kế, giao thông đường thủy, cấp thoát nước và phòng chống thiên tại. Cao trình đê biển sẽ được thiết kế phù hợp với thực tế nếu dao động mực nước được xác định chính xác.
Triều cường ven bờ thường gây trở ngại việc thoát nước đô thị do mực nước ven bờ biển cao hơn mực nước trong sông đổ ra. Nước biển dâng cộng với triều cường đưa sóng biển tiến sâu vào đất liền, dẫn đến nguy cơ xói lở và lắng đọng bờ biển cao hơn, xâm nhập mặn nhiều hơn. Nghiên cứu về phổ dao động của mực nước ven biển vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn, bởi biến động theo thời gian và không gian của mực nước biển là một hiện tượng tự nhiên có quy mô lớn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt con người. Số liệu về mực nước còn liên quan đến các dự án cơ sở hạ tầng có nguồn chi ngân sách khổng lồ, đặc biệt trong bối điển khí hậu toàn cầu.
Theo ‘Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam’ của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường năm 2012 , nếu nước biển dâng 1 m vào cuối thế kỷ 21 sẽ có khoảng 39% diện tích ĐBSCL có nguy cơn bị ngập. Do đó việc ‘Đánh giá tác động của nước biển dâng lên chế độ mực nước ven bờ biển phía Nam Việt Nam’ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết vì từ những kết quả mô phỏng sẽ thu được các phổ dao động mực nước ven bờ tương ứng với những kịch bản nước biển dâng khác nhau từ đó làm cơ sở để nghiên cứu các quy mô thời gian của dao động mực nước và ước lượng các biên độ dao động nhằm phục vụ công tác dự báo mực nước ven biển. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Nghiên cứu tình hình chế độ mực nước ven biển vùng đồng bằng sông Cửu Long ứng với các kịch bản nước biển dâng khác nhau nhằm tìm ra đặc điểm của dao động mực nước nhằm hạn chế tối đa các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu đến những khu vực trọng yếu ở khu vực ven biển phía Nam Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể Xây dựng kịch bản về mực nuớc ven biển theo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài Nguyên Môi Trường ban hành năm 2012 dưới tác động của nước biển dâng, lưu lượng thượng nguồn giảm ứng với những kịch bản (KB) NBD: 0,25m ; 0,50m và 0,75m nhằm giải quyết và hiểu rõ quy luật dao động mực nước ven biển. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THƯC TIỄN 1. Ý nghĩa khoa học Đánh giá một cách tương đối những diễn biến mực nước ven biển trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu: mực nước biển dâng, lưu lượng đầu nguồn giảm,… ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL. Nhằm dự báo các khu vực có nguy cơ bị tác động trực tiếp trong điều kiện nước biển dâng trên khu vực nghiên cứu, đóng góp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và phát triển khai kế hoạch hành động như: xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin thủy văn cơ bản phục vụ phòng chống lũ lụt và phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL.
Ý nghĩa thực tiễn Các kết quả nghiên cứu có thể sử dụng như cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xác định cao độ thiết thiết tối ưu cho tất cả các công trình từ hệ thống đê biển đến cầu cảng, kho bãi, khu nghĩ dưỡng đến hạ tầng đô thị ven biển. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Diễn biến mực nước ven biển vùng ĐBSCL, những ảnh hưởng và tác động của nó đến quá trình sản xuất, đời sống của con người. Phạm vi nghiên cứu ĐBSCL nằm ở hạ lưu sông Mekong với hệ thống sông, kênh rạch lớn nhỏ đan xen, nên rất thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm, với hai nhánh sông Tiền và sông Hậu mang lại tổng lượng nước cho sông Cửu Long khoảng 500 tỷ mét khối.
Trong đó sông Tiền chiếm 79% và sông Hậu chiếm 21%. Chế độ thuỷ văn thay đổi theo mùa. Mùa mưa nước sông mang nhiều phù sa bồi đắp cho đồng bằng. Về mùa khô, lượng nước giảm nhiều, làm cho thuỷ triều lấn sâu vào đồng bằng làm vùng đất ven biển bị nhiễm mặn nghiêm trọng.
Chiều dài bờ biển 732 km với nhiều cửa sông và vịnh, chịu nhiều ảnh hưởng của triều cường. Khu vực nghiên cứu Đồng bằng sông Cửu Long 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp thống kê : nhằm thu thập và xử lý số liệu khí tượng thủy văn, số liệu địa hình, mạng lưới kênh sông, các số liệu về thủy triều… Phương pháp kế thừa : được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu, xem xét, đánh giá và vận dụng các kết quả nghiên cứu đã có trước đây kể cả trong nước và ngoài nước. -4- Phương pháp ứng dụng mô hình toán : được thực hiện trên cơ sở sử dụng tối đa phát triển của tin học trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển tài nguyên nước trong nước và thế giới, cụ thể là các mô hình toán mô phỏng.
Trong luận văn sẽ ứng dụng mô hình Telemac2D để mô phỏng tác động của nước biển dâng đối với chế độ mực nước ven biển của ĐBSCL. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI [1] “Tác động của nước biển dâng đến chế độ thủy triều dọc bờ biển Việt Nam” của tác giả Trần Thục và Dương Hồng Sơn ( Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển T12(2012), số 1 , trang 10-16). Trong bài báo này tác giả sử dụng hệ thống Mô hình Hải dương học khu vực (ROMS) để đánh giá tác động của các kịch bản nước biển dâng lên chế độ thủy triều dọc bờ biển Việt Nam. Mô hình được kiểm định với chế độ thủy triều hiện tại và mô phỏng với các kịch bản nước biển dâng toàn cầu là 0.
Khi nước biển dâng mà làm thay đổi độ sâu và quy mô của biển sẽ dẫn tới thay đổi các đặc trưng thủy triều. Vào một thời điểm trong tương lai, dưới tác động của biến đổi khí hậu, mực nước trung bình toàn cầu có thể dâng lên 1 m so với hiện tại thì mực nước trung bình của các khu vực khác nhau trên đại dương thế giới không giống nhau do thay đổi của các hoàn lưu, nhiệt độ và độ muối. Đồng thời, quá trình cộng hưởng sóng dài cũng thay đổi so với hiện tại do độ sâu tăng thêm khoảng 1 m và nhất là theo phương ngang, kích thước các vùng biển có xu hướng tăng lên. Sau khi tổng hợp và phân tích các số liệu về địa hình, khí tượng, thủy văn tiến hành đưa vào mô hình để tính toán và so sánh với mực nước thực đo tại các trạm đo thủy triều.
Kết quả tính toán về pha dao động mực nước tổng hợp khá phù hợp với số liệu thực đo, tuy nhiên về biên độ thủy triều, sai số bình phương trung bình vẫn còn khá lớn. Kết quả nghiên cứu cho thấy với độ phân giải mịn hơn cho kết quả tốt hơn. Sau khi mô hình và tính toán áp dụng mô hình, tác giả đã rút ra kết luận ”nếu chỉ xét đến yếu tố địa hình và chế độ triều thì nước biển dân toàn cầu sẽ có ảnh hưởng -5- khác nhau đối với các vùng biển khác nhau của Việt Nam”. Nghiên cứu này cho thấy chỉ riêng thay đổi độ sâu vùng thềm lục địa theo các kịch bản nước biển dâng đã có thể làm thay đổi biên độ thủy triều dọc bờ biển Việt Nam tới 20%.
Trong bài báo, tác giả đã thực hiện phân tích kết quả nghiên cứu tác động của nước biển dâng đối với chế độ thủy triều khu vực Nam Bộ bằng phương pháp phân tích điều hòa để xử lý trực tiếp các chuỗi số liệu thực đo mực nước để nghiên cứu chế độ triều và tác động của nước biển dâng lên nó. Sử dụng số liệu đầu vào là chuỗi số liệu mực nước thực đo tại 10 trạm: Vũng Tàu, Nhà Bè, Vàm Kênh, Bình Đại, An Thuận, Bến Trại, Mỹ Thanh, Gành Hào, Ông Đốc và Xẻo Rô. Sau khi tính toán bằng mô hình bằng phương pháp điều hòa, độ chính xác của bộ số liệu được tính toán có độ tin cậy khá cao, có sự phù hợp khá tốt về trị số, về pha, về hình dạng đường quá trình mực nước tính toán và thực đo.