Tổng quan luận án
Vùng ven biển Việt Nam có chiều dài đường bờ trên 3.260 km trải dài qua 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tập trung hơn 50% đô thị, 60% dân số và phần lớn các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN), khu vực nuôi trồng thủy sản, cảng biển và dịch vụ du lịch. Trong đó, vùng ven biển Đông Nam Bộ (chiều dài đường bờ khoảng 90 km) thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là khu vực có tốc độ phát triển công nghiệp hóa nhanh nhất cả nước với 129 KCN và 100 CCN, đóng góp khoảng 45% GDP toàn quốc trong giai đoạn 2010–2020. Quá trình phát triển kinh tế – xã hội (KTXH) tập trung từ phía lục địa dẫn đến áp lực lớn về ô nhiễm và gia tăng nguy cơ xảy ra sự cố môi trường (SCMT) nước, đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái và sinh kế dân cư ven biển.
Thực tiễn quản lý ghi nhận nhiều SCMT nghiêm trọng như vụ xả thải của Công ty Vedan năm 2008 làm ô nhiễm 12 km dòng chính sông Thị Vải; SCMT từ Khu chế biến hải sản Tân Hải năm 2017 gây ô nhiễm sông Chà Và làm chết hơn 90 tấn cá nuôi lồng bè của 47 cơ sở; hay sự cố xả thải Formosa năm 2016 ảnh hưởng đến 4 tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, các mô hình đánh giá rủi ro và SCMT hiện có thường chỉ tập trung vào biến đổi tự nhiên, phân tích riêng lẻ từng yếu tố hoặc chưa lượng hóa đầy đủ mối tương tác giữa hiểm họa từ lục địa với độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của hệ thống ven biển.
Từ khoảng trống lý luận và thực tiễn đó, luận án tiến sĩ kỹ thuật chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường (Mã ngành: 9.01) của nghiên cứu sinh Lê Tân Cương với đề tài "Xây dựng khung phương pháp đánh giá sự cố môi trường vùng ven biển — Trường hợp vùng ven biển Đông Nam Bộ" được thực hiện tại Viện Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Phước và PGS. Nguyễn Hồng Quân (năm 2024).
Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu thực tiễn:
- Bằng cách nào nhận diện mối nguy xảy ra SCMT nước vùng ven biển do quá trình phát triển KTXH từ phía lục địa?
- Khung phương pháp nào là phù hợp để đánh giá SCMT vùng ven biển, từ đó hỗ trợ dự báo nguy cơ và hậu quả tiềm ẩn xảy ra SCMT vùng ven biển do quá trình phát triển KTXH từ phía lục địa?
- Giải pháp nào là hợp lý để ngăn ngừa, giảm thiểu SCMT nước vùng ven biển do quá trình phát triển KTXH từ phía lục địa?
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu xây dựng khung phương pháp đánh giá SCMT vùng ven biển do quá trình phát triển KTXH từ phía lục địa để áp dụng vào thực tiễn đánh giá SCMT vùng ven biển Đông Nam Bộ, từ đó hỗ trợ đề xuất các giải pháp phù hợp ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường.
- Mục tiêu cụ thể: (1) Xây dựng khung phương pháp đánh giá SCMT vùng ven biển do quá trình phát triển KTXH từ phía lục địa từ góc độ môi trường tiếp nhận và cộng đồng; (2) Đánh giá và phân tích SCMT vùng ven biển đối với khu vực nghiên cứu điển hình thuộc vùng ven biển Đông Nam Bộ theo khung phương pháp đề xuất; (3) Đề xuất giải pháp phù hợp ngăn ngừa, giảm thiểu SCMT cho khu vực nghiên cứu điển hình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các chỉ thị, tiêu chí và chỉ số nhận diện mối nguy, hiểm họa, phơi nhiễm, tính dễ bị tổn thương (TDBTT); các khung phương pháp đánh giá SCMT đa mối nguy từ lục địa; các nguồn rủi ro tiềm ẩn sự cố tràn hóa chất nguy hiểm, tràn nhiên liệu và tràn chất thải lỏng.
- Phạm vi nội dung: Đánh giá SCMT gây ra bởi các tác nhân trực tiếp (tràn hóa chất, tràn nhiên liệu, tràn chất thải lỏng); không bao gồm các tác nhân gián tiếp (thiên tai, tai nạn giao thông thủy/bộ) và chưa lượng hóa chi tiết lỗi vận hành/thiết bị của con người.
- Phạm vi không gian: Phạm vi xây dựng khung phương pháp mở rộng từ huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận) đến huyện Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh). Phạm vi nghiên cứu điển hình áp dụng khung phương pháp kéo dài từ huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) đến huyện Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh), bao gồm vùng biển ven bờ (cách bờ 6 hải lý) và dải đất ven biển cấp xã/phường/thị trấn, được phân chia thành 27 tiểu vùng.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu phục vụ tính toán, mô phỏng thu thập từ năm 2010 đến 2022; dữ liệu quy hoạch phục vụ giải pháp dựa trên định hướng phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2050.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về phân tích hiểm họa, độ nhạy, tính dễ bị tổn thương và khung phương pháp đánh giá rủi ro môi trường (RRMT) vùng ven biển:
1. Nghiên cứu phân tích hiểm họa SCMT nước
Các nghiên cứu hiểm họa SCMT tập trung vào ba nhóm sự cố chính: tràn hóa chất, tràn nhiên liệu và tràn chất thải lỏng thông qua mô hình toán, phương pháp thống kê và phương pháp phân tích đa tiêu chí (MCDM):
- Sự cố tràn hóa chất: Neuparth và cộng sự (2011), Michael và cộng sự (2014), Isabel và cộng sự (2015), Michela và cộng sự (2017), Liu và cộng sự (2013, 2018), Lei Dong và cộng sự (2018), Guozhi và cộng sự (2019). Các tác giả nước ngoài thường xác định hiểm họa thông qua ma trận thương số khối lượng hóa chất lưu trữ so với ngưỡng quy định và quy trình kiểm soát nguồn rủi ro. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đỗ Thị Thu Huyền (2018), Nguyễn Đình Tuấn (2018), cùng hướng dẫn kỹ thuật của Tổng cục Môi trường (2013) phân tích hiểm họa hóa chất dựa trên ngành nghề, ngưỡng khối lượng chất thải nguy hại phát sinh và vị trí nguồn thải.
- Sự cố tràn nhiên liệu: Davide và cộng sự (2013), Kankara và cộng sự (2016), Cục Điều tra, Kiểm soát Tài nguyên và Môi trường biển (2013), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (2013), Nguyễn Đình Tuấn (2018). Các tiêu chí chủ yếu gồm khối lượng, loại nhiên liệu, vị trí và năng lực ứng phó tại chỗ.
- Sự cố tràn chất thải lỏng: Viện Môi trường và Tài nguyên (2015), Shaun và cộng sự (2018), Liu và cộng sự (2018), Nguyễn Đình Tuấn (2018). Các nghiên cứu tập trung vào cấp thiết kế công trình lưu chứa, tình trạng bảo dưỡng thiết bị, lưu lượng và mục đích sử dụng của nguồn nước tiếp nhận.
2. Nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương và độ nhạy môi trường
- Độ nhạy môi trường: Denner và cộng sự (2015), Komali và cộng sự (2018), Palmer và cộng sự (2011), Ingrida và cộng sự (2015) khai thác các biến địa mạo (độ dốc bờ, bề rộng bãi, vật liệu bờ, sóng). Ling Cai và cộng sự (2015), Sudibyo và cộng sự (2020) và hướng dẫn của NOAA (2012) tích hợp thêm tài nguyên sinh thái (san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn) và hoạt động KTXH. Ở Việt Nam, Lê Thị Thu Hiền và Hà Quang Hải (2013), Đào Nguyên Khôi và cộng sự (2019), Nguyễn Văn Phước và Nguyễn Thị Thu Hiền (2019) đã lập bản đồ nhạy cảm đường bờ cho Bình Thuận, Cần Giờ và Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Khả năng thích ứng: Kim-Anh và cộng sự (2019), Michael và cộng sự (2018), Asif và cộng sự (2019) lượng hóa khả năng tiếp cận nguồn lực y tế, năng lực tài chính, rừng ngập mặn và năng lực quản trị của chính quyền địa phương.
| Nhóm tác giả & Năm |
Đối tượng / Loại sự cố |
Hướng tiếp cận & Khung chỉ số |
Phương pháp sử dụng |
| Michela et al. (2017) |
Tràn hóa chất vùng ven biển Ý, Pháp, Lebanon, Tunisia |
Hiểm họa, Độ nhạy |
Mô hình toán, Chỉ số, GIS |
| R. Liu et al. (2018) |
Tràn hóa chất lưu vực sông Laoguan (Trung Quốc) |
Hiểm họa, Phơi nhiễm, Hậu quả, Độ nhạy |
MCDM, Mô hình chất lượng nước tức thời, GIS |
| Lei Dong et al. (2018) |
Tràn hóa chất vùng ven biển Beihai (Trung Quốc) |
Hiểm họa, Phơi nhiễm, Điểm cuối |
Mô hình thủy lực 1D/2D (MIKE 11, MIKE 21), GIS |
| Sudibyo et al. (2020) |
Tràn nhiên liệu vịnh Ả Rập |
Độ nhạy (Đường bờ, Sinh vật, KTXH) |
Phương pháp chỉ số (23 biến), GIS |
| R. Kankara et al. (2016) |
Tràn nhiên liệu tại Chennai (Ấn Độ) |
Độ nhạy, Phơi nhiễm |
Mô hình lan truyền dầu, Chỉ số, GIS |
| Ling Cai et al. (2015) |
Tràn nhiên liệu vịnh Dongshan (Trung Quốc) |
Hiểm họa, Phơi nhiễm, Độ nhạy, Thích ứng |
Mô hình lan truyền 3D, Chỉ số (13 biến), GIS |
| Nguyễn Đình Tuấn (2018) |
Hóa chất, nhiên liệu, nước thải vùng KTTĐ phía Nam |
Rủi ro liên vùng (Khả năng sự cố, Mức độ tác động) |
Đánh giá bán định lượng, MCDM |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn
Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ đánh giá đơn lẻ một loại sự cố, tách rời giữa hiểm họa và khả năng thích ứng của địa phương, hoặc chỉ áp dụng mô hình toán cho lan truyền trên sông mà chưa tích hợp đầy đủ công cụ MCDM với mô hình thủy động lực học ven biển 2D để phân vùng SCMT đa tiêu chí. Luận án chọn giải quyết bài toán tích hợp đồng thời 3 thành phần: Hiểm họa (H), Phơi nhiễm (E) và Tính dễ bị tổn thương (V = Độ nhạy S - Khả năng thích ứng AC) do các hoạt động từ đất liền gây ra cho dải ven biển.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án kế thừa cách tiếp cận đánh giá rủi ro môi trường (RRMT) và khung đánh giá TDBTT theo định hướng của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC). Khung phương pháp đánh giá SCMT ven biển được cấu thành từ 3 chỉ số cốt lõi:
- Chỉ số Hiểm họa (Hazard Index - H): Xác định nguy cơ xuất phát từ các nguồn rủi ro nội tại trên đất liền (tràn hóa chất, tràn nhiên liệu, tràn chất thải lỏng).
- Chỉ số Phơi nhiễm (Exposure Index - E): Lượng hóa phạm vi không gian và khối lượng chất ô nhiễm tiếp xúc với môi trường nước ven biển theo các kịch bản sự cố.
- Chỉ số Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability Index - V): Tích hợp từ 2 chỉ số phụ gồm Độ nhạy môi trường (Sensitivity - S) và Khả năng thích ứng (Adaptability - AC).
2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận kết hợp đa ngành giữa quản lý môi trường, toán học ra quyết định, viễn thám và mô hình hóa thủy động lực học:
- Phương pháp sàng lọc và phân tích đa tiêu chí (MCDM):
- Phương pháp SAW (Simple Additive Weighting): Dùng để tính điểm sơ bộ, sàng lọc và lựa chọn bộ tiêu chí phù hợp.
- Phương pháp AHP (Analytic Hierarchy Process): Thiết lập cấu trúc phân cấp các yếu tố môi trường và nguồn thải.
- Phương pháp GBWM (Group Best-Worst Method): Xác định trọng số tối ưu của các tiêu chí và chỉ số thành phần. Phương pháp này giảm số lượng cặp so sánh từ $n(n-1)/2$ xuống còn $(2n-3)$, giúp tăng tính nhất quán của ma trận đánh giá chuyên gia.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý môi trường thuộc các cơ quan chuyên môn tại khu vực phía Nam.
- Phương pháp viễn thám và GIS: Tiền xử lý, giải đoán và ghép 11 cảnh ảnh vệ tinh để phân loại đối tượng vật liệu đường bờ, địa mạo dải ven biển; sử dụng các công cụ Spatial Analyst của GIS để chồng xếp lớp bản đồ, tính toán chỉ số và phân vùng 27 tiểu vùng.
- Phương pháp mô hình toán thủy lực và môi trường (MIKE 21):
- MIKE 21 FM HD (Hydrodynamic): Mô phỏng chế độ thủy động lực học 2 chiều dòng chảy mùa khô và mùa mưa với lưới tam giác phi cấu trúc (Flexible Mesh).
- MIKE 21 FM SW (Spectral Wave): Mô phỏng chế độ sóng tương tác ven bờ.
- MIKE 21 FM SA (Oilspill/Spill Analysis): Mô phỏng quá trình lan truyền, khuếch tán chất ô nhiễm trong môi trường nước theo các kịch bản tràn hóa chất Isopentane và Hexane.
- Phương pháp ma trận SWOT: Tổng hợp điểm mạnh (S), điểm yếu (W), cơ hội (O), thách thức (T) kết hợp ý kiến chuyên gia để xây dựng các nhóm giải pháp giảm thiểu SCMT.
3. Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu quy hoạch KTXH, hiện trạng KCN, CCN, kho bãi hóa chất, cơ sở kinh doanh xăng dầu, trạm xử lý nước thải do Sở TNMT TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cung cấp.
- Dữ liệu khí tượng thủy văn, hải văn, mực nước, lưu lượng từ Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ và Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam.
- Dữ liệu đo đạc địa hình đáy biển, bản đồ địa hình và ảnh viễn thám khu vực ven biển Đông Nam Bộ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về các phương pháp đánh giá sự cố môi trường vùng ven biển và khu vực nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa khoa học về vùng ven biển, rủi ro môi trường, hiểm họa, tính dễ bị tổn thương, độ nhạy và khả năng thích ứng. Phân tích chi tiết đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của khu vực nghiên cứu điển hình (Bà Rịa – Vũng Tàu và Cần Giờ – TP.HCM).
Chương này tổng kết các bài học từ các SCMT điển hình trong nước và quốc tế, rà soát hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất, tràn dầu và chất thải. Kết quả tổng quan khẳng định sự cần thiết phải thiết lập một bộ tiêu chí định lượng có trọng số được tối ưu hóa để đánh giá rủi ro SCMT ven bờ do áp lực phát triển lục địa.
Chương 2: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình xây dựng khung phương pháp và các bước thu thập, xử lý dữ liệu:
- Thiết lập quy trình sàng lọc bộ tiêu chí sơ bộ đánh giá SCMT bằng phương pháp SAW và chuyên gia.
- Ứng dụng thuật toán GBWM để xác định trọng số cho từng tiêu chí thành phần thuộc nhóm Hiểm họa, Nhóm Độ nhạy và Nhóm Khả năng thích ứng.
- Thiết lập lưới tính toán và mô hình thủy lực 2 chiều MIKE 21 FM cho khu vực ven biển Đông Nam Bộ; quy trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình với chuỗi số liệu thực đo.
- Thiết kế 3 kịch bản mô phỏng lan truyền hóa chất Isopentane và Hexane trong mùa khô và mùa mưa để đánh giá khối lượng phơi nhiễm thực tế (tấn) tại các tiểu vùng.
- Trình bày sơ đồ tích hợp dữ liệu không gian trên nền tảng GIS để tính toán chỉ số tổng hợp SCMT và phân hạng nguy cơ.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 công bố toàn bộ các kết quả tính toán, kiểm định và thảo luận khoa học:
- Xây dựng thành công các bộ tiêu chí và trọng số:
- Bộ tiêu chí Hiểm họa: Tràn hóa chất (6 tiêu chí), tràn nhiên liệu (6 tiêu chí), tràn chất thải lỏng (7 tiêu chí).
- Bộ tiêu chí Độ nhạy (8 tiêu chí): Độ dốc đường bờ, vật liệu đường bờ, rừng ngập mặn, bãi triều, khu bảo tồn/sinh thái, khu vực nuôi trồng thủy sản, bãi tắm du lịch, mật độ dân cư ven biển.
- Bộ tiêu chí Khả năng thích ứng (5 tiêu chí): Năng lực trang thiết bị ứng phó tại chỗ, mạng lưới y tế, khoảng cách tiếp cận hỗ trợ cứu hộ, nguồn lực tài chính dự phòng của địa phương, kế hoạch ứng phó khẩn cấp được phê duyệt.
- Kết quả mô phỏng lan truyền phơi nhiễm: Dòng chảy thủy động lực học mùa khô và mùa mưa tạo ra các quỹ đạo phân tán hóa chất Isopentane và Hexane khác biệt rõ rệt giữa các vùng nước cửa sông Soài Rạp, sông Lòng Tàu, vịnh Gành Rái và vùng biển ngoài khơi Vũng Tàu.
- Đánh giá và phân vùng 27 tiểu vùng nghiên cứu điển hình:
- Kết quả phân vùng chỉ số SCMT mùa khô và mùa mưa chỉ ra sự phân hóa không gian theo 4 cấp độ: Thấp, Trung bình, Cao, Rất cao.
- Các tiểu vùng thuộc khu vực hạ lưu sông Thị Vải, sông Chà Và, vịnh Gành Rái và khu vực tập trung cảng biển – công nghiệp hóa chất nặng thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có chỉ số SCMT ở mức "Cao" và "Rất cao".
- Ma trận tích hợp SWOT và giải pháp đề xuất: Xây dựng ma trận kết hợp các yếu tố S-O, S-T, W-O, W-T để đưa ra các nhóm giải pháp công trình và phi công trình nhằm phòng ngừa, kiểm soát SCMT cho các tiểu vùng nguy cơ cao.
Kết quả và những đóng góp mới
1. Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Luận án đã xây dựng hoàn chỉnh khung phương pháp luận đánh giá SCMT vùng ven biển do quá trình phát triển KTXH từ phía lục địa dựa trên sự tích hợp đồng thời của 3 nhóm chỉ số: Hiểm họa (H), Phơi nhiễm (E) và Tính dễ bị tổn thương (V, cấu thành từ Độ nhạy S và Khả năng thích ứng AC).
- Chuẩn hóa hệ thống tiêu chí đánh giá đa mối nguy (hóa chất, nhiên liệu, chất thải lỏng) với thang điểm đánh giá định lượng cụ thể.
- Ứng dụng thành công phương pháp GBWM trong việc xác định bộ trọng số tối ưu cho các tiêu chí đánh giá SCMT, nâng cao độ tin cậy và tính nhất quán so với phương pháp AHP truyền thống.
2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đã nhận diện, sàng lọc và định lượng hóa mức độ hiểm họa của các nguồn rủi ro công nghiệp hóa chất tại dải ven biển Đông Nam Bộ.
- Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu số hóa và bản đồ chuyên đề phân vùng: Bản đồ hiểm họa, Bản đồ phơi nhiễm hóa chất theo mùa, Bản đồ độ nhạy đường bờ, Bản đồ năng lực thích ứng, Bản đồ TDBTT và Bản đồ tổng hợp phân cấp nguy cơ SCMT cho 27 tiểu vùng ven biển từ Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) đến Cần Giờ (TP.HCM).
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý môi trường có tính khả thi cao, gắn liền với điều kiện tự nhiên và quy hoạch phát triển kinh tế biển của vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn 2050.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung đánh giá các tác nhân gây sự cố trực tiếp từ đất liền (tràn hóa chất, tràn dầu, nước thải), chưa xem xét các tác nhân rủi ro gián tiếp từ thiên tai biển cực đoan (bão mạnh, nước dâng do bão kết hợp triều cường bất thường) và chưa lượng hóa chi tiết yếu tố sai sót chủ quan của con người hay hỏng hóc kỹ thuật trong quy trình vận hành nhà máy. Nghiên cứu điển hình mới chỉ tập trung mô phỏng chi tiết 2 loại hóa chất nguy hiểm đại diện là Isopentane và Hexane.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng kiểm chứng khung phương pháp cho các vùng biển khác có đặc trưng địa hình và chế độ hải văn khác nhau (như ven biển Miền Trung hoặc Đồng bằng sông Cửu Long); tích hợp thêm các kịch bản biến đổi khí hậu cực đoan và mở rộng mô phỏng cho nhiều nhóm hóa chất nguy hiểm và hợp chất hữu cơ độc hại khác.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Là công cụ hỗ trợ ra quyết định cho Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân và Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố ven biển (đặc biệt là TP. Hồ Chí Minh và Bà Rịa – Vũng Tàu) trong công tác quy hoạch không gian biển, thẩm định đánh giá tác động môi trường các dự án ven bờ, và lập kế hoạch ứng phó khẩn cấp sự cố môi trường cấp tỉnh/liên vùng.
- Đối với các nhà khoa học và nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp luận tích hợp mô hình toán thủy lực 2 chiều (MIKE 21), GIS và phương pháp ra quyết định đa tiêu chí tối ưu (GBWM) trong nghiên cứu quản trị rủi ro môi trường ven biển.
- Đối với doanh nghiệp tại các KCN/CCN ven biển: Cung cấp cơ sở định lượng để các nhà máy, kho cảng hóa chất nhận diện các mắt xích rủi ro cao trong chuỗi lưu chứa và vận hành, từ đó chủ động đầu tư trang thiết bị phòng ngừa và nâng cao năng lực ứng phó tại chỗ.
Câu hỏi thường gặp
1. Khung phương pháp đánh giá SCMT của luận án được cấu thành từ những chỉ số nào?
Khung phương pháp được tích hợp từ 3 nhóm chỉ số chính:
- Chỉ số Hiểm họa (Hazard): Lượng hóa nguy cơ từ các nguồn phát thải trên đất liền.
- Chỉ số Phơi nhiễm (Exposure): Xác định khối lượng và phạm vi lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường nước thông qua mô phỏng thủy động lực học.
- Chỉ số Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability): Tích hợp từ 2 chỉ số phụ là Độ nhạy môi trường (đặc trưng địa mạo, sinh thái, KTXH) và Khả năng thích ứng (nguồn lực ứng phó, y tế, cứu hộ của địa phương).
2. Phương pháp GBWM có ưu điểm gì trong việc xác định trọng số tiêu chí?
Phương pháp GBWM (Group Best-Worst Method) dựa trên nguyên lý so sánh tiêu chí tốt nhất (quan trọng nhất) và tiêu chí kém nhất (ít quan trọng nhất) với các tiêu chí còn lại. Ưu điểm nổi bật là làm giảm đáng kể số lượng cặp cần so sánh từ $n(n-1)/2$ (trong phương pháp AHP) xuống còn $(2n-3)$, từ đó giảm bớt sự sai lệch chủ quan của chuyên gia và nâng cao tính nhất quán của kết quả xác định trọng số.
3. Nghiên cứu điển hình áp dụng trên phạm vi không gian nào và phân chia ra sao?
Nghiên cứu điển hình được thực hiện trên dải ven biển Đông Nam Bộ trải dài từ huyện Xuyên Mộc (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) đến huyện Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh), bao gồm dải đất ven biển cấp xã và vùng biển ven bờ cách bờ 6 hải lý. Khu vực nghiên cứu được chia thành 27 tiểu vùng địa lý để đánh giá và phân loại nguy cơ SCMT.
4. Các bộ tiêu chí đánh giá hiểm họa trong luận án gồm những loại sự cố nào?
Luận án xây dựng 3 bộ tiêu chí đánh giá hiểm họa tương ứng với 3 loại sự cố chính từ lục địa:
- Sự cố tràn hóa chất nguy hiểm: 6 tiêu chí.
- Sự cố tràn nhiên liệu: 6 tiêu chí.
- Sự cố tràn chất thải lỏng (nước thải): 7 tiêu chí.
5. Kết quả phân vùng SCMT tại khu vực Đông Nam Bộ được chia thành các cấp độ nào?
Kết quả tính toán chỉ số tổng hợp SCMT trên nền tảng GIS phân chia 27 tiểu vùng thành 4 cấp độ rủi ro: Thấp, Trung bình, Cao và Rất cao. Các tiểu vùng tập trung mật độ cao về khu công nghiệp hóa chất, kho cảng xăng dầu và hệ thống xử lý nước thải hạ lưu sông Thị Vải, sông Chà Và và vịnh Gành Rái thuộc nhóm có cấp độ SCMT ở mức "Cao" và "Rất cao".
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Lê Tân Cương đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu xây dựng khung phương pháp luận đánh giá sự cố môi trường nước vùng ven biển do các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội từ phía lục địa. Bằng việc tích hợp thành công công cụ phân tích đa tiêu chí GBWM, viễn thám, mô hình thủy động lực học MIKE 21 và GIS, luận án đã lượng hóa và phân vùng nguy cơ SCMT chi tiết cho 27 tiểu vùng ven biển Đông Nam Bộ theo 4 cấp độ. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quy hoạch không gian, phòng ngừa rủi ro và quản lý bền vững tài nguyên môi trường biển.