CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỒNG GHÉP XÁC LẬP CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT CẤP HUYỆN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu quy hoạch lồng ghép thích ứng biến đổi khí hậu Thích ứng biến đổi khí hậu được Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) đề cập tới như là “.hành động bảo vệ sinh kế và đời sống, duy trì sức khỏe cộng đồng, duy trì nền kinh tế và các nguồn lực, ngăn chặn suy thoái môi trường”.
Những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới quan tâm tới vấn đề này, đặc biệt chú trọng tới lồng ghép thích ứng biến đổi khí hậu trong quy hoạch - một giải pháp định hướng không gian trong giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu tới sản xuất, cơ sở hạ tầng,. Năm 2010, Kithiia và Dowling đã thực hiện một nghiên cứu quy hoạch đô thị lồng ghép thích ứng biến đổi khí hậu tại Kenya. Năm 2012, Ko và Chang nghiên cứu phát triển mô hình MOPSD lồng ghép thích ứng biến đổi khí hậu trong quy hoạch không gian phục vụ ra quyết định phát triển bền vững vùng ven biển. Năm 2013, Celliers và cộng sự đã nghiên cứu lồng ghép thích ứng biến đổi khí hậu trong kế hoạch quốc gia về phát triển vùng ven biển.
Năm 2014, Rivera và Wamsler đã nghiên cứu quy hoạch đô thị lồng ghép giảm thiểu rủi ro do thiên tai phục vụ ra chính sách và điều chỉnh quy hoạch tại Nicaragua. Tại Việt Nam, các hành động thích ứng được thực hiện với giải pháp về công nghệ, hành vi, quản lý, chính sách. Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu xác định: “. xây dựng cộng đồng ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu là vấn đề trọng tâm nhất”.
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu cũng xác định một trong những nội dung quan trọng là “. xây dựng kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn”. Trong chương trình, tăng cường vai trò chủ đạo của Nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu được đề cập tới trong nhiệm vụ 6, bao gồm: điều chỉnh, lồng ghép vấn đề biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; rà soát, điều chỉnh các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của các bộ, ngành, địa phương trên cơ sở khoa học, hiệu quả kinh tế và tính đến các yếu tố rủi ro, bất định của biến đổi khí hậu và nước biển dâng; lồng ghép vấn đề biến đổi khí hậu trong các quy hoạch, kế 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạch phát triển kinh tế xã hội vùng, địa phương; điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thiết kế công trình, cơ sở hạ tầng dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, do quy hoạch lồng ghép là một vấn đề còn rất mới mẻ ở Việt Nam, nên trong thực tiễn triển khai nghiên cứu, vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất.
Một số tài liệu xuất bản tại Việt Nam đã đề cập tới quy hoạch lồng ghép: lồng ghép các yếu tố môi trường và biến đổi khí hậu vào quy hoạch sử dụng đất (Trương Quang Học và cộng sự, 2009); lồng ghép giảm nhẹ rủi ro thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp tỉnh, các ngành tại tỉnh An Giang (Trung tâm ứng phó thiên tai Châu Á, 2010); lồng ghép giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu trong lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp xã hàng năm tại tỉnh Quảng Trị và Nghệ An (OXFAM Hồng Kông, 2011); lồng ghép biến đổi khí hậu vào xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2015 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2011), các vấn đề khoa học và thực tiễn trong định hướng sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất lồng ghép (Trường Đại học Thủy lợi), sự cần thiết đưa yếu tố môi trường vào quy trình quy hoạch sử dụng đất đai (Nguyễn Thị Vòng và cộng sự, 2010), đặc trưng của một số yếu tố bảo vệ môi trường trong định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện Sóc Sơn (Vũ Sỹ Kiên và Nguyễn Thị Vòng, 2012). Các công trình nghiên cứu xác lập mô hình thích ứng biến đổi khí hậu Một hướng nghiên cứu được đề cập nhiều trong thời gian gần đây là xác lập và phát triển các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa trên hệ sinh thái (Ecosystem-based Adaptation - EbA). Hướng này tích hợp quá trình sử dụng đa dạng sinh học và các dịch vụ của hệ sinh thái thành một chiến lược tổng thể giúp cho người dân thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu. Quá trình này bao gồm quản lý bền vững, bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái nhằm cung cấp đầy đủ dịch vụ giúp con người thích ứng tốt với những thay đổi khí hậu hiện thời và quá trình biến đổi khí hậu trong tương lai.
Các mô hình thích ứng dựa trên hệ sinh thái góp phần giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương cũng như tăng khả năng phục hồi sau khi bị tác động bởi biến đổi khí hậu, nhưng vẫn đảm bảo cung cấp lợi ích cho xã hội và môi trường. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dựa trên hệ sinh thái, tính thích ứng thường hiệu quả hơn phương thức vật lý kỹ thuật với giá thành thường thấp và tính thích ứng được duy trì lâu dài. Một số mô hình điển hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa trên hệ sinh thái trên thế giới đã được ứng dụng và thu được hiệu quả cao. Tengo và Belfrage (2004) đã nghiên cứu sự hình thành mạng lưới liên kết các hộ nông dân nhỏ tại Roslagen (Thụy Điển) nhằm duy trì sản xuất nông nghiệp theo mô hình trang trại thích ứng với thay đổi khí hậu tích hợp điều chỉnh hệ sinh thái nhằm đảm bảo tính đa dạng sinh học của khu vực.
Năm 2007, chương trình hành động Quốc gia thích ứng với Biến đổi Khí hậu của Ethiopia (NAPA) đã ứng dụng công cụ CRISTAL (Công cụ kiểm soát rủi ro, thích ứng và sinh kế dựa vào cộng đồng) nhằm đánh giá các tiêu chí đánh giá về khả năng nghèo đói và khí hậu của cộng đồng nhằm cải thiện và nâng cao hiệu lực của quản lý tài nguyên trong thực tiễn cũng như sử dụng hợp lý khu vực đất ngập nước. Năm 2008, trong chương trình nâng cao và đa dạng hóa tính bền vững, Cattermoul đã xây dựng những mô hình sinh kế giảm sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên trong thời kỳ ngắn hạn dựa trên nguyện vọng và năng lực của cộng đồng địa phương. Pérez (2010) đã xác lập mô hình thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái núi cao ở Columbia theo các tiêu chí: (i) Phục hồi hệ sinh thái núi cao dựa trên sự trợ giúp của địa phương, (ii) Tích hợp vào quy hoạch sử dụng đất nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và hướng tới duy trì cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái, (iii) Cải thiện hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm giảm sự phụ thuộc và tính dễ tổn thương của hệ sinh thái thông qua hệ thống canh tác của nông dân địa phương, (iv) Đánh giá và mô hình hóa thông tin về khí tượng - thủy văn và môi trường nhằm theo dõi và quản lý tính thích ứng của biến đổi khí hậu. Chính quá trình xác lập mô hình phục hồi sinh thái núi cao cho khu vực dãy Andes đã tạo điều kiện cho sự hình thành Chính sách Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu của Colombia cũng như tạo điều kiện cho cộng đồng địa phương tiếp cận với hệ thống cảnh báo sớm thiên tai tại khu vực.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thích ứng với biến đổi khí hậu đã được ứng dụng phổ biến trong những năm gần đây. Khởi đầu là các thể chế chính sách của Nhà nước liên quan tới phát triển bền vững và biến đổi khí hậu. Năm 1998, Việt Nam tham gia ký Nghị định thư Kyoto và từ đó tới nay đã tổ chức kế hoạch thực hiện Nghị định thư Kyoto giai đoạn 2007-2010 (Quyết định số 47/2007/TTg của Thủ tướng Chính 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Việt Nam cũng đã Công bố Chiến lược Quốc gia về phòng chống, thích nghi và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 (SRV, 2007).
Ngày 2/12/2008, Chính phủ đã công bố Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu theo Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Từ đó cho tới nay, rất nhiều mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu đã được lựa chọn và áp dụng. Trong nông nghiệp, mô hình hệ thống thâm canh lúa cải tiến (System of Rice Intensification - SRI) thử nghiệm cho 6 tỉnh và thành phố là Hà Nội, Yên Bái, Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An và Hà Tĩnh đã cho thấy rất nhiều hiệu quả: (i) giải quyết tình trạng lạm dụng phân đạm làm giảm khả năng chống chịu của cây lúa, từ đó dễ bị sâu bệnh tấn công và ảnh hưởng tới chất lượng đất khi lượng phân dư thừa; (ii) sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật làm tăng khả năng kháng thuốc của sâu bệnh; (iii) đáp ứng được tình hình diễn biễn phức tạp của biến đổi khí hậu như các hiện tượng bão lũ, hạn hán xảy ra ngày càng thường xuyên với cường độ lớn, gây ra nhiều thiệt hại cho mùa màng; (iv) giải quyết vấn đề khan hiếm nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa việc triển khai cùng lúc nhiều kỹ thuật khác nhau tại cùng thời điểm cũng như chưa có chiến lược cải tạo đất cụ thể khiến cho phương pháp vẫn chưa chứng minh được tính hiệu quả của dự án.
Một dạng mô hình truyền thống và phổ biến ở vùng nông thôn Việt Nam là mô hình Vườn - Ao - Chuồng (VAC) cũng được đánh giá là có khả năng thích ứng tốt với biến đổi khí hậu. Mô hình này được coi là một mô hình kinh tế sinh thái có tính ưu việt về khả năng tự cung tự cấp hiệu quả, khả năng chống chịu và phục hồi nhanh trước những tác động của biến đổi khí hậu. Mô hình VAC được Hội Người Làm Vườn Việt Nam khởi xướng từ những năm 1986 và cho đến nay vẫn đang được nhiều tổ chức, cá nhân áp dụng.