CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC 1.1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.1 Định nghĩa về biến đổi khí hậu Có nhiều định nghĩa về biến đổi khí hậu như sau: Theo Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đối khí hậu định nghĩa: “Biến đổi khí hậu là những ảnh hưởng có hại của sự thay đổi khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra nhựng ảnh hưởng có hại đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” [6]. Theo IPCC (2009) định nghĩa về biến đổi khí hậu như sau: “Biến đổi khí hậu là bất kỳ sự thay đổi khí hậu nào theo thời gian, dù là do biến đổi tự nhiên hoặc là kết quả hoạt động của con người” [7] Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường của Việt Nam (2009) thì biến đổi khí hậu được định nghĩa như sau: “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất” [8].2 Các nguyên nhân gây biến đổi khí hậu BĐKH có thể gây ra do hai nguyên nhân: do những quá trình tự nhiên và do hoạt động của con người. Trước đây, khí hậu đã nhiều lần biến đổi do yếu tố tự nhiên.
Tuy nhiên, đây không phải là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu trong những năm gần đây. Những nghiên cứu về BĐKH cho thấy, nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động phát triển của con người sinh ra ngày càng nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính (KNK) như dioxide cacbon (CO2), metan (CH4), và nitơ oxit (N2O), hydroflorua cacbon (HFCs), perfloruacacbon (PFCs), và sunphua hecxafluorit (SF6). NOx phát sinh trong khí thải của các phương tiện giao thông, sản xuất phát và xây dựng (nhà máy sản xuất xi măng, sản xuất sành sứ, xưởng trộn bê tông, lò nung vôi,. HFCs, PFCs, SF6 là các khí trơ phát sinh chủ yếu từ hoạt động sản xuất hóa chất, dệt nhuộm,… CO2 chủ yếu sinh ra từ quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch: than đá, dầu mỏ, khí đốt, củi.
CH4 sinh ra từ quá trình quá trình phân hủy kỵ khí các chất hữu cơ. Theo báo cáo của Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH toàn cầu (IPCC) cho thấy từ năm 1750 trở về trước, tức thời gian chưa xảy ra công nghiệp hóa, hàm lượng CO2 đo HVTH: Phạm Thị Ánh Hồng 8 Luận văn cao học “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nguồn nước mặt tỉnh Đồng Nai và đề xuất biện pháp thích ứng” được là 280 ppm. Tuy nhiên, đến năm 2005, hàm lượng CO2 đo được là 379 ppm. Hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng cao là nguyên nhân gây nóng lên toàn cầu.
Cùng với sự gia tăng khí CO2, nhiệt độ Trái đất cũng đã tăng lên 0,740C từ năm 1906 – 2005. Những mô hình dự báo cũng cho thấy nhiệt độ sẽ nóng lên 5,20C đến năm 2100, hơn gấp đôi so với dự báo của IPCC cách đây nhiều năm [9].2 CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.1 Tác động của biến đổi khí hậu trên Thế giới Theo báo cáo lần thứ 3 của IPCC (2001) cho thấy đến cuối thế kỷ 19, nhiệt độ bề mặt Trái Đất đã tăng xấp xỉ 0,2 – 0,60C. Thập kỷ 90 của thế kỷ 20 là thập kỷ nóng nhất trong 1.000 năm qua ở bán cầu Bắc. Hai giai đoạn có nhiệt độ tăng nhanh nhcủa thế kỷ 20 là thập kỷ nóng nhất trong 1.000 năm qua ở 0C/thập kỷ.
Năm 2007, IPCC đã đưa ra báo cáo lần thứ 4 và cho thấy nhiệt độ toàn cầu tăng xấp xỉ 0,740C trong giai đoạn 1906 – 2005. Trong đó, năm 1998 và 2005 có nhiệt độ trung bình toàn cầu cao nhất. Nếu nồng độ các khí nhà kính và các sol khí khác vẫn giữ mức năm 2000 thì nhiệt độ trung bình của Trái đất vẫn tăng thêm 0,10C/thập kỷ. Lượng mưa có xu hướng gia tăng trong giai đoạn 1900 – 2005) ở Bắc bán cầu nhưng giảm ở vùng nhiệt đới (từ năm 1970) [10].
Mức tăng nhiệt độ của bề mặt đại dương chỉ bằng một nửa mức tăng nhiệt độ không khí bề mặt Trái Đất. Những phân tích mới đây cho thấy hàm lượng nhiệt của đại dương toàn cầu tăng lên rõ rệt từ những năm 1950, trong đó hơn một nửa lượng nhiệt tăng lên này xảy ra ở lớp nước bên trên, tương đương với mức tăng khoảng 0,040C/thập kỷ. Nước biển ấm lên sẽ làm cho các cơn bão nhiệt đới mạnh hơn. Với hơn 344 triệu người đang phải đối mặt với nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các xoáy thuận nhiệt đới, các cơn bão mạnh hơn có thể gây thiệt hại nặng nề cho một số nước.
Hiện có khoảng 1 tỷ người sống ở các khu nhà ổ chuột đô thị, trên các triền đồi có nguy cơ sạt lở hay bên các bờ sông luôn bị ngập đang đối mặt với nguy cơ bị tổn thương nghiêm trọng [10]. Sự gia tăng nhiệt độ do BĐKH sẽ gây ra các tác động nghiêm trọng như gia tăng mực nước biển, nóng lên toàn cầu, thay đổi lượng mưa và các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão, lũ lụt, hạn hán, lốc xoáy nhiệt đới,…), gây tác động đến sức khỏe, đời sống con người và ảnh hưởng đến nhiều ngành kinh tế. Các kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 0,31% (tương đương 194.309 km2) vùng lãnh thổ của 84 nước đang phát triển bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng 1m. Tỷ lệ bị ngập có thể tăng lên 1,2% theo kịch bản mực nước biển dâng cao 5m.
Cho dù tỷ lệ này nhỏ nhưng nó cũng sẽ ảnh hưởng đến 56 triệu người (hay 1,28% dân số) của 84 nước đang phát triển bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 1m. Các vùng đất ngập nước bị ảnh hưởng đáng kể cho dù mực nước biển chỉ dâng 1m và sẽ có 7,3% các vùng đất ngập nước của 84 nước bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 5m [4]. Chỉ tính những vùng biển có mật độ dân cư dày hơn 10 người/km2 đã có khoảng 350.000 km bờ biển cũng như 10.700 km các bãi biển du lịch và 1.800 km thuộc các cảng HVTH: Phạm Thị Ánh Hồng 9 Luận văn cao học “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nguồn nước mặt tỉnh Đồng Nai và đề xuất biện pháp thích ứng” cần phải được bảo vệ để tránh khỏi mối đe dọa đang đến gần do mực nước biển dâng cao. Tuy nhiên, nhiều quốc gia lại không có khả năng trang trải cho những chi phí rất tốn kém cho việc bảo vệ này [9].
Bên cạnh việc ngập lụt thường xuyên do BĐKH, mực nước biển dâng còn làm gia tăng tần suất và quy mô các trận lũ. Tuy nhiên, các trận lụt như vậy không chỉ gây ra do mực nước biển dâng cao mà còn do sự hủy hoại của các lá chắn tự nhiên như rừng ngập mặn, các rặng san hô, các cồn cát ngầm ở ngoài khơi, các vũng nước mặn và sự suy giảm hệ thống tiêu tưới đất liền bởi các con sông và kênh đào. Điều này có nghĩa là các con sông cũng sẽ xâm lấn, phá vỡ bờ của chúng thường xuyên hơn, gây ra những trận lụt lớn như Bangladesh, Trung Quốc, miền Nam Hoa Kỳ, Ấn Độ,… Những trận lụt này sẽ là hiểm họa cho nhân loại vì chúng cản trở sản xuất nông nghiệp ở những vùng đất phù sa. Điển hình, Bănglađet sẽ mất 20% và Ai Cập mất khoảng 15% diện tích đất trồng.
Các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Zambia, Senegal, Nigeria, Mozambique,… cũng sẽ đối mặt với những nguy cơ tương tự. Ở một số vùng, các trận lụt thường xuyên hơn cùng với hệ quả là sự xói lở bờ biển sẽ phá hoại các bải cát ven biển vốn là yếu tố thu hút khách du lịch [9]. Phần lớn các mô hình dự báo trong tương lai cho thấy: - Nhiệt độ cực đại cao và nhiều ngày nắng, nóng hơn trong tương lai hầu như trên tất cả các khu vực; - Mưa với cường độ lớn diễn ra nhiều hơn tại các vùng thuộc vĩ độ trung bình và vĩ độ cao bán cầu Bắc; - Nhiệt độ cực tiểu cao hơn và những ngày rét và băng giá giảm đi trên tất cả các vùng; - Biên độ nhiệt độ ngày giảm; - Hạn mùa hè ở lục địa có liên quan đến thiên tai, hạn hán ở một số vùng; - Cường độ gió và cường độ mưa trong xoáy thuận nhiệt đới tăng lên. Các hiện tượng thời tiết cực đoan gây tác động rất lớn đến đời sống, môi trường và xã hội.
Chẳng hạn, sự nóng lên toàn cầu có thể làm tăng cường độ của xoáy khí quyển ở vĩ độ trung bình. Thêm vào đó, từ những năm 1970, do hiện tượng El Nino, nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lớn, lũ lụt, mưa đá, vòi rồng, hạn hán đã xảy ra nghiêm trọng trên diện rộng. Trung tâm Halley cho biết mức tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất và khí nhà kính hiện đã tăng ở mức báo động. Hiện tượng này sẽ khiến sản lượng ngũ cốc trên thế giới có thể giảm đến 400 triệu tấn, khiến 400 triệu người có nguy cơ chết đói và 1,2 – 3,0 tỷ người sẽ thiếu nước sạch.
Bên cạnh đó, hệ sinh thái toàn cầu cũng bị ảnh hưởng nặng nề, 1/3 diện tích rừng tự nhiên sẽ ngừng phát triển và 1/5 diện tích vùng duyên hải sẽ biến mất [9]. Tác động của BĐKH đến môi trường, kinh tế - xã hội,… là rất nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Điều này đòi hỏi cần phải có một chiến lược ứng phó trên phạm vi toàn cầu, tại mỗi khu vực và mỗi quốc gia nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. HVTH: Phạm Thị Ánh Hồng 10 Luận văn cao học “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nguồn nước mặt tỉnh Đồng Nai và đề xuất biện pháp thích ứng” 1.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến các nước Châu Á Không khu vực nào trên thế giới bị đặt trước những thách thức mạnh mẽ do biến đổi khí hậu mạnh mẽ như Châu Á hiện nay.
Với dân số chiếm trên 60% dân số thế giới, tài nguyên thiên nhiên đã chịu nhiều áp lực và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của phần lớn các lĩnh vực ở Châu Á là thấp.