Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của cộng đồng cư dân ven biển tỉnh Nghệ An

Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của cộng đồng ven biển Nghệ An, góp phần nâng cao nhận thức và giải pháp ứng phó.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Biến Đổi Khí Hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

82
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.1. Các thuật ngữ liên quan

1.2. Một số khái niệm chung

1.3. Khái niệm và định nghĩa về tính dễ bị tổn thương

1.4. Tính dễ bị tổn thương của con người

1.5. Các công trình nghiên cứu TDBTT ngoài nước

1.6. Đánh giá về tính dễ bị tổn thương

1.7. Các phương pháp luận đánh giá tính dễ bị tổn thương

1.8. Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương

1.9. Một vài mô hình đánh giá TDBTT

1.10. Các công trình nghiên cứu TDBTT trong nước

1.11. Định hướng nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.2. Phương pháp kế thừa

2.3. Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa

2.4. Phương pháp chỉnh lý số liệu và tính toán các tham số, chỉ số

2.5. Phương pháp chuyên gia

2.6. Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp

2.7. Các bước nghiên cứu đánh giá MĐTT

2.8. Xác định đối tượng nghiên cứu

2.9. Lựa chọn chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương

2.10. Xác định các thành tố và trị số trung bình của độ phơi nhiễm E

2.11. Xác định các thành tố và trị số trung bình của độ nhạy (S)

2.12. Xác định các thành tố và trị số trung bình của khả năng thích ứng (AC)

2.13. Xác định công thức tính dễ bị tổn thương

2.14. Số liệu phục vụ nghiên cứu

2.15. Số liệu về biến đổi và xu thế biến đổi lượng mưa

2.16. Số liệu về số ngày rét và số ngày nắng nóng

2.17. Số liệu về biến đổi và xu thế biến đổi nhiệt độ

2.18. Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng ven biển Nghệ An

2.19. Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho tỉnh Nghệ An

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TỔN THƯƠNG TRÊN CÁC HUYỆN VEN BIỂN NGHỆ AN

3.1. Điều kiện tự nhiên của các huyện ven biển Nghệ An

3.2. Đặc điểm chung

3.3. Đặc điểm tự nhiên cụ thể của từng huyện liên quan đến đánh giá tổn thương

3.4. Điều kiện kinh tế xã hội của các huyện ven biển Nghệ An

3.5. Đặc điểm chung

3.6. Đặc điểm kinh tế xã hội cụ thể của từng huyện liên quan đến đánh giá tổn thương

3.7. Kết quả nghiên cứu về tổn thương cho từng lĩnh vực của cộng đồng cư dân ven biển Nghệ An

3.8. Đánh giá tổn thương trong lĩnh vực sản xuất lúa

3.9. Kết quả đánh giá tổn thương trong lĩnh vực đánh bắt thủy hải sản

3.10. Kết quả đánh giá tổn thương trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng

3.11. Tổng hợp kết quả nghiên cứu về tổn thương do BDKH của cộng đồng cư dân ven biển Nghệ An

3.12. Một số đề xuất về định hướng thích ứng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu tại Nghệ An

Nghệ An là một trong những tỉnh ven biển của Việt Nam, nơi chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu. Tính dễ bị tổn thương của cộng đồng cư dân ven biển tại đây đang trở thành một vấn đề cấp thiết. Nghiên cứu này nhằm làm rõ các khái niệm liên quan đến tính dễ bị tổn thương và tác động của biến đổi khí hậu đến đời sống của người dân.

1.1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Tính dễ bị tổn thương được định nghĩa là khả năng của một hệ thống bị tổn hại do các tác động bên ngoài. Điều này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy cảm và khả năng thích ứng của cộng đồng trước các hiện tượng như bão, lũ lụt và xâm nhập mặn.

1.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến Nghệ An

Nghệ An đang phải đối mặt với nhiều hiện tượng khí hậu cực đoan như nước biển dâng, bão và hạn hán. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp mà còn đe dọa sinh kế của người dân ven biển.

II. Vấn đề và thách thức liên quan đến tính dễ bị tổn thương tại Nghệ An

Các thách thức mà cộng đồng cư dân ven biển Nghệ An phải đối mặt do biến đổi khí hậu rất đa dạng. Từ việc giảm năng suất cây trồng đến sự gia tăng tần suất của các hiện tượng thời tiết cực đoan, những vấn đề này đang làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của người dân.

2.1. Tình hình sản xuất nông nghiệp và đánh bắt thủy sản

Sản xuất nông nghiệp tại Nghệ An đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu. Nước biển dâng và xâm nhập mặn đã làm giảm diện tích và năng suất lúa, trong khi ngành đánh bắt thủy sản cũng gặp khó khăn do thời tiết bất thường.

2.2. Tác động đến đời sống và sinh kế của người dân

Cuộc sống của người dân ven biển Nghệ An trở nên bất ổn do các hiện tượng khí hậu cực đoan. Nguồn sinh kế của họ bị đe dọa, đặc biệt là những hộ nghèo phụ thuộc vào nông nghiệp và ngư nghiệp.

III. Phương pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu

Để đánh giá tính dễ bị tổn thương của cộng đồng cư dân ven biển Nghệ An, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm khảo sát thực địa, phân tích số liệu và tham khảo ý kiến chuyên gia.

3.1. Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát thực địa giúp thu thập thông tin thực tế về tình hình sản xuất và đời sống của người dân. Phương pháp này cho phép so sánh và đối chiếu giữa các khu vực khác nhau.

3.2. Phân tích số liệu và đánh giá tổng hợp

Phân tích số liệu là bước quan trọng để đánh giá mức độ tổn thương. Các chỉ số được tính toán và phân tích nhằm đưa ra những nhận định chính xác về tình hình tại Nghệ An.

IV. Kết quả nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương tại Nghệ An

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tổn thương của cộng đồng cư dân ven biển Nghệ An là rất cao. Các chỉ số đánh giá cho thấy nhiều khu vực đang phải đối mặt với nguy cơ lớn từ biến đổi khí hậu.

4.1. Đánh giá tổn thương trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

Nghiên cứu chỉ ra rằng sản xuất lúa nước tại Nghệ An đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu. Năng suất giảm, diện tích canh tác thu hẹp, làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của người nông dân.

4.2. Kết quả đánh giá tổn thương trong lĩnh vực đánh bắt thủy sản

Ngành đánh bắt thủy sản cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Tần suất bão và áp thấp nhiệt đới gia tăng đã làm giảm sản lượng và thu nhập của ngư dân.

V. Giải pháp và chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu tại Nghệ An

Để giảm thiểu tính dễ bị tổn thương, cần có các giải pháp và chiến lược thích ứng hiệu quả. Những biện pháp này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo sinh kế cho cộng đồng cư dân ven biển.

5.1. Chiến lược phát triển bền vững cho nông nghiệp

Cần áp dụng các phương pháp canh tác bền vững, sử dụng giống cây trồng chịu mặn và cải thiện hệ thống tưới tiêu để nâng cao năng suất và khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.

5.2. Tăng cường năng lực thích ứng cho cộng đồng

Đào tạo và nâng cao nhận thức cho người dân về các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu là rất cần thiết. Các chương trình hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cũng cần được triển khai để giúp cộng đồng vượt qua khó khăn.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai cho Nghệ An

Nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu tại Nghệ An đã chỉ ra nhiều thách thức mà cộng đồng cư dân ven biển phải đối mặt. Tuy nhiên, với các giải pháp thích ứng hợp lý, có thể giảm thiểu tác động và nâng cao khả năng phục hồi của cộng đồng.

6.1. Tương lai của cộng đồng cư dân ven biển Nghệ An

Nếu các biện pháp thích ứng được thực hiện hiệu quả, cộng đồng cư dân ven biển Nghệ An có thể cải thiện tình hình sinh kế và giảm thiểu tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu.

6.2. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần có các nghiên cứu sâu hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực khác nhau tại Nghệ An, từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể và hiệu quả hơn cho cộng đồng.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của cộng đồng cư dân ven biển tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu 1. Các thuật ngữ liên quan 1. Một số khái niệm chung - Biến đổi khí hậu Là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất.

(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008) Theo Nguyễn Đức Ngữ (chủ biên, 2008), các biểu hiện của biến đổi khí hậu là Nhiệt độ trung bình năm tăng; sự biến đổi và độ khác thường của thời tiết và khí hậu tăng; Nước biển dâng do băng tan từ các cực Trái đất và các đỉnh núi cao; Các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại, bão, lũ lụt, hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ và độ khác thường lớn hơn. - Khí hậu cực đoan Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (The Intergoverment Panel on Climate Change – IPCC), 2007 định nghĩa “hiện tượng thời tiết cực đoan” và “hiện tượng khí hậu cực đoan” như sau: Hiện tượng thời tiết cực đoan là hiện tượng hiếm ở một nơi cụ thể khi xem xét phân bố thống kê của nó. Hiếm có thể hiểu là các hiện tượng thời tiết cực đoan thông thường được có tần suất xuất hiện của nó nhỏ hơn 10%. Theo định nghĩa này, những đặc trưng của thời tiết cực đoan có thể thay đổi tùy từng khu vực mà đặc trưng cho khu vực đó, nó phụ thuộc vào các yếu tố địa lý tự nhiên, bức xạ, địa hình… Hiện tượng khí hậu cực đoan: là trung bình của số các hiện tượng thời tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhất định, trung bình tự nó đã là cực đoan.

Hiện tượng khí hậu cực đoan có thể xác định từ các yếu tố khí hậu. Nói cách khác, hiện tượng khí hậu cực đoan phần lớn không được quan trắc trực tiếp mà người ta căn cứ vào số liệu quan trắc các yếu tố khí hậu để xác định hoặc quy định một hiện tượng nào đó có xuất hiện hay không. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thích ứng với biến đổi khí hậu Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008) - Cộng đồng Cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những quan hệ nhất định với nhau (Korten,1987). Theo Tô Duy Hợp và cộng sư (2000) thì cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (Chặt chẽ hoặc không chặt chẽ) là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu rằng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên.

Các đặc điểm đó có thể là: + Đặc điểm kinh tế , xã hội: Cộng đồng làng xã, khu dân cư đô thị + Huyết thống: Cộng đồng các thành viên thuộc một họ tộc + Mối quan tâm và quan điểm: Nhóm sở thích trong một dự án phát triển + Môi trường, nhân văn 1. Khái niệm và định nghĩa về tính dễ bị tổn thương Tính dễ bị tổn thương là một khái niệm rất trừu tượng được để cập trong nhiều tài liệu và chưa được thống nhất một cách cụ thể.Tính dễ bị tổn thương bao hàm nhiều vấn đề như kinh tế, xã hội và tài nguyên (Susman, O’Keefe, và Wisner 1983; Cannin, 1994), các biểu hiện vật lý (Mitchell,1989; Scheneider và Chen,1980); mối quan hệ của nơi xảy ra tai biến với hệ thống xã hội (Dow,1992; Cutter,1996)… Tính dễ bị tổn thương đề cập đến khả năng của một hệ thống bị tổn hại do một tác động bên ngoài (ví dụ một mối đe dọa). Nó thường được định nghĩa như là một hàm số của sự lộ diện, tính nhạy cảm với tác động và năng lực đối phó hoặc thích nghi. Việc tiếp xúc hay lộ diện đối với những hiểm họa như xung đột, hạn hán hoặc biến động giá cả, và cũng có khi là điều kiện cơ sở kinh tế xã hội, thể chế và môi trường.

Mức độ nghiêm trọng của những tác động không chỉ phụ thuộc vào mức độ tiếp xúc, mà còn phụ thuộc vào tính nhạy cảm của các hợp phần cụ hể (ví dụ như một hệ sinh thái, một lưu vực sông, một hòn đảo, một hộ gia đình, làng, thành 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phố hoặc quốc gia) và vào khả năng để đối phó và thích nghi .Có một số khái niệm về tính dễ bị tổn thương (TDBTT) như sau: - Tính dễ bị tổn thương là trạng thái dễ bị tổn hại do tiếp xúc với những căng thẳng liên quan đến những thay đổi môi trường và xã hội do thiếu năng lực để thích ứng (Alger, 2006). - Điều kiện xác định bởi các yếu tố hoặc quá trình vật lý, xã hội, kinh tế và môi trường mà chúng tại ra sự tổn hại do tác động của những hiểm họa (UNISDR, 2007). - Đặc điểm của một người hoặc một nhóm người và hoàn cảnh của họmà chúng ảnh hưởng lên năng lực của họ để ngăn chặn, đối phó, chống chịu và phục hồi tác động của một hiểm họa tự nhiên (một hiện tượng hoặc quá trình cực đoan)” (Wisner et. - TDBTT là khả năng nguy hiểm hay hứng chịu những bất lợi của cá nhân hay một nhóm người do tác động của tai biến.

Tính tổn thương phụ thuộc vào độ rủi ro và khả năng giảm thiểu tai biến của cộng đồng (Cutter, 1993). - TDBTT là sự mất an toàn của cá nhân hay cộng đồng khi phải đối mặt với sự thay đổi của môi trường (Moser, 1996). - TDBTT là một hàm của 2 biến của mức độ tổn thất (do tai biến) và khả năng chống chịu và phục hồi (Clark, 1998). - TDBTT là tính nhạy cảm của tài nguyên (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã hội) trước những tác động tiêu cực của tai biến (NOAA, 1999).

- TDBTT là khả năng bị tổn thương của hệ thống tự nhiên – xã hội, là những đặc tính của hệ thống cho phép nó cảm nhận, ứng phó, chống đỡ và phục hồi từ những thay đổi bên ngoài tác động vào hệ thống (Kasperson, 2001). Đối với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến tài nguyên - môi trường thì có những định nghĩa riêng về tính dễ bị tổn thương tùy thuộc vào từng mục đích nghiên cứu và hoạt động: - Liên hợp quốc (UN, 1982) phân biệt 2 khái niệm quan trọng trong định nghĩa TDBTT. Trước tiên, phân biệt TDBTT kinh tế và tính nhạy cảm sinh thái và cho rằng tổn thương kinh tế bao gồm cả các yếu tố sinh thái. Do vậy, TDBTT phản ánh 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính nhạy cảm kinh tế và sinh thái đối với những sự cố hay biến động từ bên ngoài.

Tiếp theo là phân biệt giữa TDBTT cấu trúc bắt nguồn từ tình hình chính trị và TBDTT bắt nguồn từ các chính sách kinh tế. Theo đó, TDBTT được coi là sự mất mát/tổn thất do các hiện tượng tự nhiên có cường độ khác nhau. - Cơ quan phát triển quốc tế của Hoa Kỳ (USAID, 1999) thì coi tính tổn thương như là một công cụ đánh giá trong Hệ thống cảnh báo sớm nạn đói nghèo (Famine Early Warning System - FEWS). Họ cho rằng mọi người đều bị tổn thương nhưng ở mức độ khác nhau phụ thuộc vào nguyên nhân, diễn thế và điều kiện.

- Uỷ ban Địa học ứng dụng Nam Thái Bình Dương (The South Pacific Applied Geo-science Commission - SOPAC, 1999) thì cho rằng tính tổn thương là khả năng ứng phó và phục hồi của hệ thống đối với các tác động của tai biến. Liên quan đến khía cạnh BĐKH, nghiên cứu và đánh giá TDBTT đã được đề cập, thực hiện với nhiều công trình của các giả và tổ chức trên thế giới - Theo quan niệm của Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (USEPA, 2006) trong Chương trình đánh giá TDBTT vùng (Regional Vulnerability Assessment Programme) thì TDBTT của một hệ thống là mức độ tổn thất của hệ đó dưới tác động của một áp lực nào đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống. Ví dụ, suy thoái chất lượng nước mặt và ô nhiễm môi trường khí là căn cứ để nhận biết TDBTT của hệ môi trường. - Khái niệm về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đã được đưa ra từ nhiều nghiên cứu, nhưng được xem xét một cách đầy đủ nhất, bao trùm nhất là định nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu năm 2007 (IPCC, 2007), theo đó “Tính dễ bị tổn thương tới biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống dễ bị tổn thương và không thể đối phó được, với tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, bao gồm cả những dao động và hiện tượng khí hậu cực đoan”.

Tính dễ bị tổn thương là hàm số của đặc tính, quy mô, và tốc độ của biến đổi khí hậu và nhiễu động mà một hệ thống bị lộ diện, tính nhạy cảm và năng lực thích ứng của hệ thống đó. Căn cứ theo định nghĩa này, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), đã đưa ra định nghĩa của mình trong chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu như sau “Khả năng (tính) dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là mức độ mà 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu”. Như vậy theo các định nghĩa đã có trước thì TDBTT bao gồm có hai yếu tố: + Mức độ tổn thất, suy thoái của hệ thống + Mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của đối tượng bị tổn thương. Theo cách tiếp cận này, Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2007) đã định nghĩa TDBTT của tài nguyên môi trường biển là mức độ tổn thất, suy thoái về tài nguyên- môi trường biển, mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của tài nguyên- môi trường biển trước các tác động từ bên ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu tại Nghệ An" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những tác động của biến đổi khí hậu đối với khu vực Nghệ An, một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề từ hiện tượng này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các yếu tố làm tăng tính dễ bị tổn thương của cộng đồng mà còn đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng thích ứng. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức mà biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất nông nghiệp, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên cứu tác động của thiên tai đến hiệu quả doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, nơi phân tích cụ thể hơn về ảnh hưởng của thiên tai đến ngành nông nghiệp tại Nghệ An. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ báo chí báo in của bộ tài nguyên và môi trường với vấn đề biến đổi khí hậu sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu từ góc độ truyền thông. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn góp phần nghiên cứu ứng dụng lpg trên động cơ nén cháy, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của các yếu tố môi trường đến công nghệ và phát triển bền vững. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau của biến đổi khí hậu và tác động của nó đến đời sống con người.