CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỪNG 1. KHÁI QUÁT VỀ RỪNG VÀ QUẢN LÝ RỪNG 1. Một số khái niệm về rừng và quản lý rừng a. Khái niệm rừng Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu.
Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác. Ngay từ thuở sơ khai, con người đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng. Rừng là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cuộc sống của họ.
Lịch sử càng phát triển, những khái niệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng. Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý. Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật.
Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài. Mê lê khôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu. [21] Gần đây nhất Bộ NN-PTNN đã đưa ra định nghĩa mới (2009), theo xu thế hội nhập có định lượng các chỉ tiêu, mới ban hành 2009 là “Rừng là hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ. cau dừa 8 có chiều cao vút ngọn từ 5m trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan”.
Phân loại rừng Phân loại rừng là một công tác rất quan trọng trong quản lý tài nguyên rừng của mỗi quốc gia. Tại Việt nam công tác phân loại rừng gắn liền với lịch sử phát triển sử dụng rừng từ xa xưa, ta có các cách phân loại rừng như sau: - Phân loại rừng theo quan điểm sinh thái học Phân loại dựa vào các yếu tố sinh thái của môi trường và tính chất của quần xã sinh vật. Tại Việt nam dựa vào các quan điểm về sinh thái học, người ta đã phân thành 12 kiểu phụ rừng. · Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới · Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới · Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới · Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới · Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp · Kiểu trảng cây to, cây bụi, cây cỏ cao khô nhiệt đới · Kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới · Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp · Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng,lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp · Kiểu rừng kín cây lá kim ẩm ôn đới ẩm núi vừa · Kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao · Kiểu quần hệ lạnh vùng cao - Phân loại rừng theo chức năng sử dụng Tại Việt nam để thuận tiện cho công tác quản lý và quy hoạch cho công tác lâm nghiệp chính phủ đã sử dụng hệ thống phân loại rừng và đất sản xuất 9 trong lâm nghiệp theo các chức năng: · Rừng đặc dụng: Là loại rừng được thành lập với mục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp với phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái.
· Rừng phòng hộ: Là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường. · Rừng sản xuất: Là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường. - Phân loại rừng theo trữ lượng · Rừng giàu: Trữ lượng rừng trên 150 m³/ha. · Rừng trung bình: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (100-150) m³/ha.
· Rừng nghèo: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (80-100) m³/ha. · Rừng kiệt: Trữ lượng rừng thấp hơn 50 m³/ha. - Phân loại rừng dựa vào tác động của con người · Rừng tự nhiên: Là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên. · Rừng nhân tạo: Là rừng được hình thành do con người trồng.
Theo thời gian sinh trưởng, rừng trồng được phân theo cấp tuổi, tùy từng loại cây trồng, khoảng thời gian quy định cho mỗi cấp tuổi khác nhau. - Phân loại rừng dựa vào nguồn gốc · Rừng chồi: Là rừng được trồng bằng chồi thân, chồi rễ hay chồi gốc. Chỉ áp dụng cho các loài cây có khả năng đâm chồi mạnh. Những loại này sau khi khai thác rừng lần đầu tiên thì có thể áp dụng phương thức này cho một 10 hoặc hai luân kỳ sau.
· Rừng hạt: Là rừng có nguồn gốc hạt, tiến hành tái sinh hạt sau khai thác trong quá trình nuôi dưỡng rừng. Rừng hạt có sức sống mạnh, ổn định, đời sống dài, cây gỗ lớn. - Phân loại rừng theo lứa tuổi · Rừng non: Giai đoạn phát triển của rừng từ lúc cây con hình thành, tán bắt đầu giao nhau (đối với rừng trồng) cho đến lúc cây mọc ổn định về chiều cao. · Rừng sào: Rừng bắt đầu khép tán, xuất hiện quan hệ cạnh tranh gay gắt về ánh sáng và chiều cao giữa các cá thể cây gỗ.
Giai đoạn này cây gỗ phát triển mạnh về chiều cao. · Rừng trung niên: Rừng khép tán hoàn toàn, sự phát triển về chiều cao chậm lại, có sự phát triển về đường kính. Rừng đã thành thục về tái sinh. · Rừng già: Trữ lượng cây gỗ đạt tối đa.
Có một vài cây gỗ già, chết. Tán cây thưa dần, cây rừng vẫn ra hoa kết quả nhưng chất lượng không tốt. Trong đề tài ta tiến hành nghiên cứu dựa trên quan điểm phân loại rừng theo chức năng sử dụng. Khái niệm quản lý rừng Theo Tiến trình Hensinki (1995), quản lý rừng là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác.
Theo ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế) (2004), quản lý rừng là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên 11 tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội. [11] Hay nói cách khác, quản lý rừng được hiểu là tài nguyên rừng và đất liên quan phải được quản lý để bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường; đáp ứng nhu cầu về các mặt xã hội, kinh tế, sinh thái, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại và tương lai. Nguyên lý quản lý rừng Nguyên lý thứ nhất: Sự bình đẳng giữa các thế hệ trong sử dụng tài nguyên rừng. Cuộc sống con người luôn gắn với sử dụng tài nguyên thiên nhiên và để sử dụng nó chúng ta cần phải bảo vệ nó vì tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận.
Vấn đề chìa khoá để bảo đảm nguyên lý bình đẳng giữa các thế hệ trong quản lý tài nguyên rừng là bảo đảm năng suất và các điều kiện tái sinh của nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo này. Một trong những nguyên tắc cần tuân thủ là tỷ lệ sử dụng lâm sản không được vượt quá khả năng tái sinh của rừng. Nguyên lý thứ hai: Trong quản lý tài nguyên rừng bền vững, sự phòng ngừa được hiểu là ở đâu có nguy cơ suy thoái nguồn tài nguyên rừng và chưa có đủ cơ sở khoa học thì chưa nên sử dụng biện pháp phòng ngừa suy thoái về môi trường. Nguyên lý thứ ba: Sự bình đẳng và công bằng trong sử dụng tài nguyên rừng ở cùng thế hệ : Đây là một vấn đề khó, bởi vì trong khi cố tạo ra sự công bằng cho các thế hệ tương lai thì chúng ta vẫn chưa tạo được những cơ hội bình đẳng cho những người sống ở thế hệ hiện tại.
Sự bình đẳng trong cùng thế hệ hàm chứa hai khía cạnh: - Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng về sự tự do thích hợp trong việc được cung cấp các tài nguyên từ rừng; 12 - Sự bất bình đẳng trong xã hội và kinh tế chỉ có thể được tồn tại nếu: (1) sự bất bình đẳng này là có lợi cho nhóm người nghèo trong xã hội và (2) tất cả mọi người đều có cơ hội tiếp cận nguồn tài nguyên rừng như nhau. Nguyên lý thứ tư: Tính hiệu quả, tài nguyên rừng phải được sử dụng hợp lý và hiệu quả nhất về mặt kinh tế và sinh thái. Đặc điểm của công tác quản lý rừng - Tuân thủ theo quy định pháp luật của Việt Nam và các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. - Công nhận và tôn trọng quyền lợi hợp pháp của người dân địa phương về quản lý, sử dụng rừng và đất đai của họ.
Những hoạt động của đơn vị không tác động xấu đến quyền sử dụng đất và sử dụng tài nguyên rừng của người dân. - Những hoạt động quản lý, kinh doanh rừng phải có tác dụng duy trì hoặc nâng cao phúc lợi lâu dài cho người lao động của đơn vị; tạo nhiều việc làm, chia sẻ lợi ích từ hoạt động của đơn vị để tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân địa phương. - Những hoạt động xác định trong phương án phải tạo ra kết quả đảm bảo tính bền vững, đáp ứng đồng thời các mục tiêu: kinh tế, môi trường và xã hội.