Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khai thác khoáng sản là ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, song cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây biến đổi địa hình, xói mòn đất, ô nhiễm nguồn nước và suy thoái chất lượng không khí. Tại Việt Nam, tỉnh Bắc Kạn là địa phương vùng Đông Bắc sở hữu trữ lượng quặng chì – kẽm thuộc loại lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 80% tổng trữ lượng quốc gia (tập trung chủ yếu tại cụm mỏ Chợ Điền – Chợ Đồn, cùng các vùng quặng Ngân Sơn và Pác Nặm). Trong đó, huyện Ngân Sơn là địa bàn tập trung nhiều điểm quặng có giá trị công nghiệp cao.

Mỏ chì – kẽm Pác Ả tọa lạc tại xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, nằm liền kề với các điểm mỏ đang hoạt động như Sáo Sào, Cốc Chặng, Cốc Lót, Nà Nọi. Mỏ Pác Ả do Công ty TNHH Hoàng Giang đầu tư xây dựng và tổ chức khai thác kết hợp giữa cơ giới hóa và lao động thủ công theo Quyết định chủ trương đầu tư số 2110/QĐ-UBND ngày 14 tháng 12 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Mặc dù đóng góp tích cực vào nguồn thu ngân sách địa phương và giải quyết việc làm, hoạt động khai khoáng tại đây tiềm ẩn nguy cơ tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh do quá trình đào lò, nổ mìn, nghiền quặng, sử dụng hóa chất tuyển khoáng và xả thải. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lương Đình Đức (chuyên ngành Khoa học môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2019) được thực hiện nhằm lượng hóa và đánh giá thực trạng các tác động này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  1. Đánh giá được hiện trạng khai thác tại mỏ chì – kẽm Pác Ả.
  2. Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác mỏ chì – kẽm Pác Ả đến môi trường.
  3. Phân tích và đánh giá tổng thể về các biện pháp và công trình bảo vệ môi trường mỏ đang áp dụng.
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng môi trường đất, nước, không khí khu vực mỏ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động khai thác khoáng sản chì – kẽm và hiện trạng chất lượng các thành phần môi trường (tập trung vào môi trường đất, nước và không khí) tại khu vực mỏ Pác Ả.
  • Phạm vi không gian: Khu vực mỏ chì – kẽm Pác Ả, xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn với tổng diện tích đất sử dụng 11,0 ha (khai trường khai thác 8,5 ha; khu nhà xưởng chế biến và công trình phụ trợ 2,5 ha), được xác định bởi 5 điểm góc tọa độ theo hệ tọa độ VN-2000.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và khảo sát thực địa được thực hiện từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/04/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu sử dụng các định nghĩa chuẩn hóa từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Luật số 55/2014/QH13) về môi trường, thành phần môi trường, ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, quan trắc và đánh giá tác động môi trường; cùng định nghĩa về khai thác khoáng sản theo Luật Khoáng sản năm 2010 (Luật số 60/2010/QH12). Về mặt địa hóa và khoáng vật học, quặng chì – kẽm tự nhiên tồn tại dưới dạng khoáng sản đa kim: quặng sulfua (chứa galenit PbS, sfalerit ZnS) và quặng oxit (chứa cerussit $\text{PbCO}_3$, smithsonit $\text{ZnCO}_3$), đi kèm các nguyên tố có giá trị kinh tế như Au, Ag, Cd, Se, Te, Cu, Fe, Bi. Trong quá trình khai thác hầm lò quặng sulfua, nguy cơ giảm pH và hình thành dòng axit mỏ (AMD) là vấn đề trọng tâm do quá trình oxy hóa các khoáng vật lưu huỳnh khi tiếp xúc với nước và không khí.

Hệ thống cơ sở pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia áp dụng để so sánh, đối chứng gồm:

  • Luật Bảo vệ môi trường 2014 và Nghị định số 19/2015/NĐ-CP;
  • Quyết định số 18/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản;
  • QCVN 03-MT:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất;
  • QCVN 05:2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh;
  • QCVN 08-MT:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt;
  • QCVN 09:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm;
  • QCVN 11-MT:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến;
  • Quyết định số 3733/2002/BYT của Bộ Y tế về tiêu chuẩn vệ sinh lao động;
  • Quyết định chủ trương đầu tư số 2110/QĐ-UBND ngày 14/12/2017 của UBND tỉnh Bắc Kạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp điều tra hồi cứu và quan trắc thực địa:

  • Phương pháp thu thập, phân tích số liệu thứ cấp: Kế thừa tài liệu thiết kế cơ sở, thiết kế bản vẽ thi công của Công ty TNHH Hoàng Giang, báo cáo quan trắc môi trường định kỳ của Công ty TNHH Thái Bắc và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn, Niên giám thống kê huyện Ngân Sơn năm 2016.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn các kỹ sư khai thác và tuyển khoáng về công nghệ khấu quặng, nổ mìn và sơ đồ tuyển nổi, hòa tách.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát mạng lưới khe nứt kiến tạo, dòng chảy suối Là Đeng, suối Sáo Sào, xác định các điểm phát sinh chất thải rắn, khí thải ống khói lò sấy và cống xả nước thải.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích thực nghiệm: Áp dụng các tiêu chuẩn phân tích hiện hành của Việt Nam và quốc tế (TCVN 5067:1995 đối với bụi tổng TSP; TCVN 7878-2:2010 đối với tiếng ồn; TCVN 5971:1995 đối với $\text{SO}_2$; TCVN 6137:2009 đối với $\text{NO}_2$; TCVN 6492:2011 xác định pH; TCVN 5999:1995 về lấy mẫu nước; các chỉ tiêu BOD, COD, TSS, dầu mỡ, phenol và kim loại nặng As, Pb, Cd, Hg, Mn, Fe phân tích theo phương pháp tiêu chuẩn SMEWW 2012).
Nhóm mẫu Ký hiệu mẫu Vị trí quan trắc và lấy mẫu Tọa độ điểm quan trắc (VN-2000)
Không khí xung quanh KK-1 Trong xưởng chế biến bột barit (khu đập, nghiền) X: 2389764; Y: 408171
Không khí xung quanh KK-2 Trong xưởng tuyển nổi chì kẽm và barit (khu đập, nghiền) X: 2389638; Y: 408238
Khí thải ống khói KTOK-1 Ống khói sấy quặng barit lò sấy quay X: 2389769; Y: 408182
Khí thải ống khói KTOK-2 Ống khói sấy quặng barit lò sấy cánh vẩy X: 2389801; Y: 408162
Nước thải sản xuất NTSX Nước thải hầm lò sau bể xử lý X: 2389744; Y: 408092
Nước thải sinh hoạt NTSH-1 Cống thải ra môi trường tại khu vực văn phòng X: 2389801; Y: 408179
Nước thải sinh hoạt NTSH-2 Cống thải ra môi trường tại khu vực khai thác hầm lò X: 2389864; Y: 408273
Mẫu đất MĐ Mẫu đất khu vực phía Nam mỏ X: 2438,00; Y: 443152,00

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh đẩy mạnh hoạt động khai khoáng tại tỉnh Bắc Kạn. Tác giả chỉ rõ mối quan hệ giữa khai thác tài nguyên và các hệ lụy suy thoái môi trường đất, nước, không khí, từ đó xác lập 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, các đóng góp về mặt học tập, rèn luyện kỹ năng thực tế và giá trị thực tiễn đối với công tác quản lý tài nguyên môi trường tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường và khai thác khoáng sản; cấu trúc địa hóa của quặng chì – kẽm và thành phần khoáng vật chính (galenit, sfalerit, cerussit). Tài liệu tổng quan hiện trạng khai thác và luyện kim chì – kẽm trên thế giới (80% số mỏ áp dụng khai thác hầm lò; chiếm 64% tổng sản lượng khai thác; các quy trình thiêu kết ở $900^\circ\text{C}$, thủy luyện và hỏa luyện). Tại Việt Nam, quặng chì – kẽm phân bố chủ yếu ở Bắc Kạn với 77 mỏ và điểm quặng (22 mỏ và 55 điểm quặng) thuộc 3 cụm chính: Chợ Điền – Chợ Đồn (46 điểm mỏ), Ngân Sơn – Bạch Thông (20 điểm quặng) và Pác Nặm (6 điểm quặng). Phần tổng quan đồng thời nhận diện các nguồn gây ô nhiễm không khí (bụi, tiếng ồn nổ mìn, khí đốt động cơ $\text{NO}_x, \text{SO}_2, \text{CO}$), ô nhiễm nước (nước axit mỏ hầm lò, BOD, COD, kim loại nặng), biến dạng cơ học đất và suy giảm thảm thực vật do bóc đất tầng phủ.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết ranh giới địa lý mỏ Pác Ả, thời gian thực hiện đề tài từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2019. Tác giả cụ thể hóa 5 nội dung nghiên cứu chính và chuẩn hóa 5 phương pháp tiếp cận: thu thập tài liệu thứ cấp, chuyên gia, điều tra thực địa, phân tích so sánh và phương pháp lấy mẫu, phân tích các thông số ô nhiễm theo danh mục TCVN, QCVN và SMEWW tương ứng cho từng hợp phần môi trường không khí, nước và đất.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các số liệu điều tra:

  1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Khu vực mỏ nằm ở độ cao 650–900m, địa hình núi đá vôi tai mèo hiểm trở thuộc cánh đông nam nếp lồi Ngân Sơn, địa tầng thuộc hệ tầng Cốc Xô bị chia cắt bởi hệ thống đứt gãy đông bắc – tây nam khống chế quặng hóa sulfua đa kim. Thủy văn tiếp nhận dòng chảy chính gồm suối Là Đeng và suối Sáo Sào. Khí hậu có nhiệt độ trung bình năm đạt $24,61^\circ\text{C}$ (thấp nhất tháng 1 đạt $17,1^\circ\text{C}$, cao nhất tháng 6 đạt $30,2^\circ\text{C}$); độ ẩm trung bình tháng dao động từ 81% đến 87%; lượng mưa năm phân bố 85%–90% vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 9, đỉnh điểm tháng 8 đạt 252,3 mm, tháng 2 thấp nhất đạt 18,6 mm). Kinh tế huyện Ngân Sơn dựa chủ yếu vào nông nghiệp (năm 2016 có 2.129 ha lúa nước, sản lượng 9.547 tấn; 2.100 ha ngô; 41.080 ha rừng; thu nhập bình quân 3.000.000 đồng/người/tháng).
  2. Hiện trạng khai thác và tuyển quặng tại mỏ Pác Ả: Mỏ có công suất khai thác thiết kế 2.500 tấn quặng nguyên khai/năm; chế biến ra 57,34 tấn tinh quặng chì 65% Pb/năm và 75,46 tấn tinh quặng kẽm 64% Zn/năm. Trữ lượng quặng cấp 122 đạt 24.285 tấn (chứa 1.290 tấn kim loại Pb+Zn; khoáng sản đi kèm gồm 31,7 kg Au và 1.189 kg Ag); tài nguyên cấp 333 đạt 6.365 tấn (chứa 356 tấn Pb+Zn; đi kèm 8,3 kg Au và 316 kg Ag). Công nghệ khai thác kết hợp lộ thiên và hầm lò, áp dụng khoan nổ mìn lỗ khoan con bằng búa khoan khí nén cầm tay YT-24 và chống giữ dầm công-sơn.
Chỉ tiêu nổ mìn hầm lò Đơn vị tính Giá trị thiết kế
Chỉ tiêu thuốc nổ đơn vị $\text{kg/m}^3$ 1,92
Chiều sâu lỗ khoan m 1,0
Đường kính lỗ khoan mm 38
Hệ số sử dụng lỗ mìn - 0,8
Số lỗ mìn trên một gương lò Lỗ 14
Khối lượng thuốc nổ trong một lỗ mìn kg 0,48
Khối lượng thuốc nổ tiêu hao trong một chu kỳ kg 6,72

Dây chuyền tuyển quặng oxit sử dụng NaOH kết hợp vôi tôi hòa tách kẽm trong 10–20 giờ, sau đó kết tủa kẽm sunfua bằng $\text{Na}_2\text{S}$, ép tách nước thu ZnS thương phẩm (tiêu hao nước $0,25\text{ m}^3/\text{tấn}$ quặng, tương đương $7,5\text{ m}^3/\text{ngày}$). Hòa tách vàng và bạc bằng hóa chất Vichemgold định mức 0,6 kg/tấn quặng (nồng độ $\ge 1,5\text{ g/l}$) kết hợp $\text{H}_2\text{O}_2$ trong 48–96 giờ; hấp phụ bằng than hoạt tính (48 giờ); giải hấp bằng hỗn hợp $\text{NaCN} + \text{H}_2\text{O}_2$ và điện phân thu hồi kim loại quý. Than hoạt tính được tái sinh ở nhiệt độ $>300^\circ\text{C}$ để phân hủy triệt để muối xyanua thành $\text{NH}_3$ và $\text{CO}_2$. Quặng đuôi được rửa nước ($0,093\text{ m}^3/\text{tấn}$) và trung hòa bằng $\text{Fe}_2(\text{SO}_4)_3$ định mức 200 g/tấn kết hợp $0,094\text{ m}^3\text{ nước/tấn}$ để kết tủa kim loại nặng, đưa pH về mức trung tính 7–8, tuần hoàn tái sử dụng 60% lượng nước ($7,884\text{ m}^3/\text{ngày}$).

Tổng công suất lắp đặt hệ thống trang thiết bị điện toàn mỏ là 279,5 kW, gồm 1 máy nghiền quặng (100 kW), 10 hệ thống bơm tuyển (55 kW), 3 bơm nước khai thác (16,5 kW), 2 quạt thông gió lớn (11 kW), 2 quạt gió nhỏ (15 kW), 2 máy nghiền kẹp hàm (15 kW) và hệ thống chiếu sáng (7,5 kW). 3. Đánh giá tác động môi trường và công trình bảo vệ: Tác giả nhận diện chi tiết nguồn phát sinh nước mưa chảy tràn, đất đá thải, bụi nổ mìn và khí thải máy nổ. Kết quả phân tích mẫu đất tại điểm MĐ phía Nam mỏ cho thấy hàm lượng các kim loại nặng đều nằm trong ngưỡng an toàn theo QCVN 03-MT:2015/BTNMT. Mỏ áp dụng thuốc nổ công nghiệp AĐ1 ít sinh khí độc, phun sương dập bụi gương lò, rãnh thoát nước dốc 0,5%–1% thu gom nước khoan hầm lò tuần hoàn, bể tự hoại xử lý nước thải sinh hoạt và hệ thống trung hòa quặng đuôi bằng phèn sắt.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tóm tắt toàn bộ hiện trạng khai thác, khẳng định công nghệ tuyển khoáng và các biện pháp bảo vệ môi trường của mỏ bước đầu đáp ứng quy chuẩn; đồng thời kiến nghị doanh nghiệp tiếp tục hoàn thiện hệ thống rãnh gom nước mặt, định kỳ nạo vét bể lắng và duy trì quan trắc môi trường nghiêm ngặt.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chính

  • Xác lập đầy đủ cơ sở trữ lượng công nghiệp của mỏ Pác Ả với 24.285 tấn quặng cấp 122 và 6.365 tấn quặng tài nguyên cấp 333 thuộc 3 thân quặng XI, XII, XIIA.
  • Lập bảng danh mục định mức nổ mìn hầm lò chi tiết ($1,92\text{ kg thuốc nổ/m}^3$ đá; nạp 6,72 kg thuốc nổ AĐ1 cho 14 lỗ mìn trong mỗi chu kỳ khấu quặng).
  • Xác định cân bằng vật chất quy trình hóa tuyển: sử dụng $0,25\text{ m}^3\text{ nước/tấn}$ quặng cho hòa tách kẽm; 0,6 kg Vichemgold/tấn quặng để chiết tách Au-Ag; 200 g $\text{Fe}_2(\text{SO}_4)_3/\text{tấn}$ quặng đuôi để trung hòa dung dịch về pH 7–8; tỷ lệ thu hồi nước tuần hoàn đạt 60% ($7,884\text{ m}^3/\text{ngày}$).
  • Kết quả kiểm chuẩn mẫu đất tại tọa độ X: 2438,00; Y: 443152,00 xác nhận các chỉ tiêu kim loại nặng đều đạt yêu cầu của QCVN 03-MT:2015/BTNMT, môi trường đất chưa xuất hiện hiện tượng tích tụ ô nhiễm thứ cấp vượt ngưỡng.

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Đề tài mô tả chi tiết quy trình công nghệ chế biến quặng oxit chì kẽm kết hợp thu hồi đa kim đi kèm có giải pháp thu hồi tuần hoàn nước và nhiệt phân xử lý gốc xyanua trên than hoạt tính ở nhiệt độ $>300^\circ\text{C}$, hạn chế thất thoát hóa chất độc hại ra môi trường.
  • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật công nghệ và quản lý môi trường:
    • Kỹ thuật: Tăng cường hệ thống phun sương áp lực cao tại các cửa hầm lò và khu đập nghiền quặng barit; xây dựng gờ chắn và hố lắng phân cấp ngăn bùn đất trôi xuống suối Sáo Sào và suối Là Đeng khi mưa lớn; duy trì tái sử dụng nước hầm lò cho khâu khoan ướt.
    • Quản lý: Xây dựng quy chế vận hành định kỳ các bể lắng quặng đuôi; trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động cá nhân cho công nhân hầm lò; thực hiện báo cáo giám sát chất lượng môi trường định kỳ gửi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Thời gian thực hiện nghiên cứu thực địa ngắn (từ ngày 01/01/2019 đến 30/04/2019), chủ yếu nằm trong mùa khô và thời điểm giao mùa, chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ mùa mưa lũ (từ tháng 5 đến tháng 9, thời điểm chiếm 85%–90% lượng mưa năm) – vốn là giai đoạn có nguy cơ xói mòn đất, tràn bùn thải và gia tăng dòng rửa trôi axit mỏ cao nhất. Bên cạnh đó, số lượng điểm quan trắc môi trường đất còn đơn lẻ (01 mẫu đất phía Nam mỏ), chưa lập được lưới quan trắc đất đa điểm tại các vị trí xung quanh bãi chứa quặng và hồ thải quặng đuôi.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Cần tiếp tục theo dõi diễn biến chất lượng nước mặt suối Sáo Sào và suối Là Đeng theo chuỗi thời gian liên tục giữa mùa khô và mùa mưa; mở rộng nghiên cứu khả năng phát tán, tích tụ sinh học của chì, kẽm và các kim loại nặng trong đất trồng trọt và thực vật nông nghiệp khu vực lân cận mỏ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Địa chất – Khoáng sản khi thực hiện các đồ án, khóa luận tốt nghiệp về đánh giá tác động môi trường mỏ kim loại màu.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:

  • Quy trình phân tích cân bằng dòng thải và sơ đồ công nghệ hòa tách quặng oxit chì kẽm kết hợp thu hồi vàng, bạc bằng hóa chất ít độc hại (Vichemgold) thay thế xyanua trực tiếp ở khâu ngâm chiết đầu;
  • Quy trình trung hòa quặng đuôi và xử lý nhiệt phân than hoạt tính $>300^\circ\text{C}$ để triệt tiêu gốc $\text{CN}^-$;
  • Tập hợp số liệu gốc về định mức khoan nổ mìn hầm lò, công suất thiết bị khai thác và mạng lưới tọa độ trạm quan trắc môi trường thực tế tại mỏ hầm lò vùng núi cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Mỏ chì – kẽm Pác Ả có quy mô công suất khai thác và sản phẩm chế biến hàng năm là bao nhiêu? Theo quyết định chủ trương đầu tư và thiết kế cơ sở, mỏ Pác Ả có công suất khai thác đạt 2.500 tấn quặng nguyên khai/năm. Sản phẩm chế biến hàng năm gồm 57,34 tấn tinh quặng chì (hàm lượng 65% Pb) và 75,46 tấn tinh quặng kẽm (hàm lượng 64% Zn).

2. Tổng trữ lượng và tài nguyên quặng chì – kẽm tại mỏ Pác Ả được xác định như thế nào? Tổng trữ lượng quặng cấp 122 của mỏ là 24.285 tấn (tương đương 1.290 tấn kim loại Pb+Zn; khoáng sản đi kèm gồm 31,7 kg Au và 1.189 kg Ag). Tài nguyên quặng cấp 333 đạt 6.365 tấn (tương đương 356 tấn kim loại Pb+Zn; khoáng sản đi kèm gồm 8,3 kg Au và 316 kg Ag), phân bố ở 3 thân quặng chính là thân quặng XI, XII và XIIA.

3. Mỏ áp dụng quy trình hóa học nào để chiết tách vàng, bạc đi kèm trong quặng và xử lý tồn dư hóa chất? Mỏ sử dụng Vichemgold (định mức 0,6 kg/tấn quặng, nồng độ $\ge 1,5\text{ g/l}$) kết hợp $\text{H}_2\text{O}_2$ để hòa tách vàng, bạc tạo phức thioure trong thời gian 48–96 giờ, sau đó hấp phụ lên than hoạt tính. Than no kim loại được giải hấp bằng $\text{NaCN} + \text{H}_2\text{O}_2$ và đưa vào buồng điện phân cực âm để thu hồi vàng, bạc. Than hoạt tính sau đó được nhiệt phân ở nhiệt độ $>300^\circ\text{C}$ nhằm bẻ gãy và oxy hóa hoàn toàn gốc $\text{CN}^-$ thành $\text{NH}_3$ và $\text{CO}_2$. Bã quặng được trung hòa bằng $\text{Fe}_2(\text{SO}_4)_3$ (200 g/tấn quặng) để đưa pH về 7–8, kết tủa kim loại nặng và thu hồi 60% lượng nước ($7,884\text{ m}^3/\text{ngày}$) tuần hoàn lại xưởng tuyển.

4. Các chỉ tiêu kỹ thuật nổ mìn đào lò tại mỏ Pác Ả được quy định với thông số cụ thể nào? Công tác nổ mìn hầm lò sử dụng thuốc nổ AĐ1 với chỉ tiêu tiêu hao thuốc nổ đơn vị là $1,92\text{ kg/m}^3$. Gương lò bố trí 14 lỗ mìn, đường kính lỗ khoan 38 mm, chiều sâu lỗ khoan 1,0 m, hệ số sử dụng lỗ mìn đạt 0,8. Khối lượng thuốc nổ nạp trong 1 lỗ mìn là 0,48 kg và tổng lượng thuốc nổ cho một chu kỳ khấu quặng là 6,72 kg.

5. Kết quả đánh giá chất lượng đất tại khu vực mỏ Pác Ả cho thấy điều gì? Mẫu đất quan trắc tại phía Nam mỏ (tọa độ X: 2438,00; Y: 443152,00) sau khi phân tích và đối chiếu với QCVN 03-MT:2015/BTNMT cho thấy hàm lượng các kim loại nặng đều nằm trong giới hạn cho phép. Đất khu vực nghiên cứu nghèo chất dinh dưỡng tự nhiên nhưng chưa ghi nhận tình trạng ô nhiễm kim loại nặng vượt ngưỡng quy chuẩn quốc gia.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lương Đình Đức đã cung cấp bức tranh chi tiết, số liệu thực chứng về điều kiện tự nhiên, công nghệ khai thác - tuyển khoáng và các tác động môi trường tại mỏ chì - kẽm Pác Ả, xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn. Nghiên cứu đã làm rõ dây chuyền khai thác hầm lò kết hợp lộ thiên quy mô 2.500 tấn quặng/năm cùng giải pháp thu hồi kim loại quý, trung hòa quặng đuôi và tuần hoàn 60% nước tuyển. Các giải pháp kỹ thuật giảm thiểu bụi, thu gom nước thải hầm lò và hoàn thiện thể chế quản lý được đề xuất sát hợp với điều kiện khai thác mỏ thực tế tại tỉnh Bắc Kạn.